(nguồn: web. gpcantho.com)

 TUẦN 29 THƯỜNG NIÊN

Trong một thời gian dài, chúng ta đă đọc lịch sử cứu độ qua các sách lịch sử và các sách ngôn sứ. Nay ta đọc sách Étte. Đây là một câu chuyện, nhưng ta đừng hiểu sai loại văn này. Ngay cả trong trường hợp các câu chuyện như thế có một nền tảng lịch sử chắc chắn đi chăng nữa, th́ mục đích không phải là cho ta thấy Thiên Chúa khai triển kế hoạch cứu độ của Người qua các biến cố lịch sử, nhưng là đem đến cho ta một giáo huấn tôn giáo và luân lư được minh hoạ bằng những ví dụ, những con người cụ thể.

 

H́nh ảnh của một Étte hay một Moócđokhai (hay của Giuđitha, Tôbia, Xara, Giôna, nhưng không đọc trong giờ Kinh Sách) cho ta thấy những mẫu người Dothái đạo đức, thánh thiện đă sống như những môn đệ trung thành của Lề Luật qua những thử thách kinh khủng nhất. Họ là những khuôn mẫu tuyệt hảo các bậc thánh hiền và ngôn sứ đă đề ra làm lư tưởng cho hậu thế.

Trong sách Étte, ta gặp thấy một thử thách đau thương giáng xuống những người Dothái tuy trung thành mà vẫn bị một ông quan kiêu ngạo và lạm quyền t́m cách tiêu diệt. Vũ khí những người Dothái này dùng để chống lại là những vũ khí cổ điển của truyền thống khổ chế : cầu nguyện van xin, ăn chay và làm một số việc đạo đức khác để chế ngự thân xác. Người phụ nữ, theo truyền thống, vốn thuộc loại chân yếu tay mền, lại thành lợi khí Thiên Chúa quan pḥng sử dụng để giải thoát khi Người muốn trực tiếp can thiệp. Giáo huấn này chắc hẳn có tính thời sự rất cao dưới thời bách hại của người Hylạp vào thế kỷ thứ hai, nhưng vẫn có giá trị cho hết mọi thời : khi kẻ thù đắc thắng, mọi sự xem ra đă mất, th́ người chắc chắn được cứu độ là người chắc chắn trung thành với Thiên Chúa, trung thành đến chết để tuân giữ lề luật và giáo huấn của Người.

 

Ta c̣n đọc hai đoạn trích trong sách Barút. Sách này thuộc thể loại khác. Đó là một sưu tập gồm nhiều đoạn văn thuộc các thể loại rất khác nhau, nhưng có một điểm chung là phát xuất từ những cộng đoàn Dothái hải ngoại. Đây là những tín hữu thuộc dân Thiên Chúa, gắn bó tha thiết với đức tin, nhưng sống giữa những người ngoại giáo. Họ nóng ḷng mong đợi ngày nước Ítraen được phục hồi, và muốn sống như những chứng nhân trung thành của Dothái giáo giữa một nền văn minh và văn hoá xa lạ.

 

CHÚA NHẬT

Bài đọc 1 Et 1,13.9-13.15-16.19 ; 2,5-10.16-17

Cô Étte được chọn làm để thay thế hoàng hậu Vátti

 

Một sự việc đơn giản trong đời sống triều đ́nh  hoàng hậu đă đánh mất ḷng tin tưởng của vua Batư  sự việc này chuẩn bị tuy là một cách xa xôi cho việc dân Chúa bị đe dọa sẽ được giải thoát. Cô Étte người Dothái, trở thành hoàng hậu, sẽ là dụng cụ Thiên Chúa dùng để giải thoát. Đối với Thiên Chúa là Đấng làm cho mọi sự đều sinh lợi ích cho những ai yêu mến Người, th́ không có sự việc nào lại không có ư nghĩa.

 

Lời Chúa trong sách Étte.

1, 1 Bấy giờ là thời vua Asuêrô. Vua này cai trị một trăm hai mươi bảy miền từ Ấnđộ cho đến Êthióp.2 Thời ấy, vua Asuêrô đă ngồi vững trên ngai tại thành Susan.3 Năm thứ ba của triều đại, vua cho dọn tiệc thiết đăi tất cả các khanh tướng và quần thần. Các tướng lănh trong đạo binh Batư và Mêđi, các nhà quư tộc và các tổng đốc đều tề tựu lại trước mặt vua.

 

9 Hoàng hậu Vátti cũng cho dọn tiệc đăi các mệnh phụ trong hoàng cung của vua Asuêrô.10 Ngày thứ bảy, trong lúc rượu làm ḷng vua vui sướng, vua truyền cho bảy viên thái giám phục vụ vua là các ông : Mơhuman, Bítdơtha, Khácvôna, Bigơtha, Aváctha, Dêtha và Cáccát,11 phải mời hoàng hậu Vátti đội triều thiên hoàng hậu vào chầu vua, để dân chúng và các khanh tướng chiêm ngưỡng sắc đẹp của bà, v́ bà là người có nhan sắc.12 Nhưng hoàng hậu Vátti từ chối không chịu đến theo lệnh vua chuyển đạt qua các viên thái giám. Vua rất tức giận ; cơn thịnh nộ của vua bừng bừng bốc lên.

 

13 Bấy giờ, vua ngỏ lời với các nhà hiền triết am tường luật pháp. Quả thật, vua thường tŕnh bày các sự việc liên quan đến ḿnh cho những người am tường luật pháp và công lư. 15 Vua nói : "Theo luật, phải xử thế nào với hoàng hậu Vátti, v́ bà đă không tuân hành lệnh vua chuyển đạt qua các viên thái giám ?"16 Ông Mơmukhan nói trước mặt vua và các quan chức : "Hoàng hậu Vátti đă đắc tội không chỉ với đức vua, mà c̣n với tất cả các quan trong hàng quần thần và toàn thể dân chúng ở trong mọi miền thuộc quyền đức vua.

 

19 Vậy nếu đẹp ḷng đức vua, th́ xin đức vua ban sắc chỉ, ghi vào số các luật lệ dân Batư và Mêđi ; sắc chỉ này không thể huỷ bỏ được và nội dung như sau : từ nay, bà Vátti không c̣n được vào chầu vua Asuêrô nữa. Xin đức vua ban chức hoàng hậu của bà cho một người khác xứng đáng hơn.

 

2, 5 Trong thành Susan, có một người Dothái tên là Moócđokhai, con ông Giaia (ông Giaia là con ông Simy, ông Simy là con ông Kít), thuộc chi tộc Bengiamin.6 Từ Giêrusalem, ông đă bị đi đày trong số những người bị đi đày cùng với vua Giuđa là Giơkhongia, những người mà vua Babylon là Nabucôđônôxo đă phát lưu.7 Ông nuôi nấng dạy dỗ Hađátxa, tức là Étte, con gái của người chú ông, v́ cô ta mồ côi cả cha lẫn mẹ. Thiếu nữ dung mạo xinh đẹp và dễ coi. Sau khi cha mẹ cô qua đời. Ông Moócđokhai đă nhận cô làm con.

 

8 Khi lệnh vua và chỉ dụ được công bố, một số đông thiếu nữ được tập hợp về thành susan, đặt dưới quyền ông Hêghe. Cô Étte cũng được đưa về hoàng cung, ở dưới quyền ông Hêghe, người có nhiệm vụ trông nom phụ nữ.9 Thiếu nữ được ông ưa thích và được ḷng ông. Ông vội cung cấp các mỹ phẩm và phần lương thực cần thiết cho cô. Ông c̣n cho bảy cung nữ tuyển chọn trong hoàng cung để phục vụ cô, rồi chuyển cô và các cung nữ đó về pḥng tốt nhất trong hậu cung.10 Cô Étte không tiết lộ ǵ về dân tộc, nguồn gốc của ḿnh, v́ ông Moócđokhai cấm cô không được tiết lộ.

 

16 Cô được đem vào hoàng cung hầu vua Asuêrô. Bấy giờ là tháng thứ mười, tức là tháng Têvết, năm thứ bảy triều đại vua.17 Vua yêu quư cô hơn mọi phụ nữ khác. Cô được vua mến thương và ưu ái hơn mọi trinh nữ. V́ thế, vua đội triều thiên cho cô và tôn làm hoàng hậu thay thế bà Vátti.

 

Xướng đáp Tv 112,58 ; Lc 1,51-52

X Ai sánh tày Thượng Đế Chúa ta, Đấng ngự chốn cao vời, cúi xuống để nh́n xem bầu trời trái đất ?

* Kẻ mọn hèn, Chúa kéo ra khỏi nơi cát bụi, ai nghèo túng, Người cất nhắc từ đống phân tro, đặt ngồi chung với hàng quyền quư.

Đ Chúa dẹp tan phường ḷng trí kiêu căng, Người hạ bệ những ai quyền thế và nâng cao mọi kẻ khiêm nhường. *

 

Bài đọc 2

Chúng ta hăy dùng lời cầu nguyện để kích thích ḷng khao khát của chúng ta

 

Trích thư của thánh Âutinh, giám mục, gửi cho Prôba.

Tại sao chúng ta để cho ḷng trí bị phân tán v́ nhiều chuyện, và t́m xem phải cầu xin điều ǵ, bởi sợ rằng ḿnh cầu xin chẳng nên ? Tại sao không dùng lời thánh vịnh mà nói : Một điều tôi kiếm tôi xin, là luôn được ở trong đền Chúa tôi, mọi ngày trong suốt cuộc đời, để chiêm ngưỡng Chúa tuyệt vời cao sang, ngắm xem thánh điện huy hoàng ? Quả vậy, ở đó mọi ngày diễn ra không phải do ngày này đến, rồi ngày kia qua, cũng không phải là ngày này bắt đầu là ngày kia kết thúc ; mọi ngày vô tận đều xuất hiện cùng một lúc, tại đây chính đời sống mà mọi ngày đó tuỳ thuộc cũng không có tận cùng.

 

Để đạt được cuộc sống hạnh phúc đời này, chính Đấng là Sự Sống thật đă dạy chúng ta cầu nguyện. Khi cầu nguyện, đừng lải nhải như thể càng nói th́ càng được nhậm lời, v́ chúng ta cầu nguyện với Đấng đă biết chúng ta cần ǵ trước khi chúng ta xin, như chính Chúa đă nói.

 

Chúng ta có thể phân vân tại sao Đấng đă biết chúng ta cần ǵ trước khi chúng ta xin, lại c̣n dạy chúng ta cầu nguyện. Vậy chúng ta phải hiểu rằng Chúa là Thiên Chúa chúng ta không cần chúng ta tỏ ư muốn của chúng ta cho Người biết, v́ Người không thể không biết ; nhưng Người muốn dùng việc cầu nguyện để kích thích ḷng khao khát của chúng ta, hầu chúng ta có thể lănh nhận ơn Người sẵn sàng ban. Quả thế, ơn Người muốn ban th́ rất lớn mà chúng ta lại bé nhỏ và có giới hạn, không thể lănh nhận hết. V́ thế có lời bảo chúng ta : Anh em hăy mở rộng tâm hồn, đừng mang chung một ách với những kẻ không tin.

 

Ơn ấy thật là lớn lao (mắt không thấy v́ đó không phải là màu sắc, tai không nghe v́ đó không phải là âm thanh ; ơn ấy không đi vào ḷng người, v́ ḷng người phải vươn lên tới đó). Chúng ta càng tin cậy vững chắc và khát khao ơn ấy nồng nàn hơn bao nhiêu th́ càng lănh nhận được dồi dào hơn bấy nhiêu. Vậy, với đức tin, đức cậy, đức mến chúng ta vẫn cầu nguyện luôn mà ḷng vẫn không ngừng khao khát. Nhưng chúng ta cũng dùng lời lẽ mà cầu xin Thiên Chúa vào những giờ và thời gian ấn định, để nhờ những dấu hiệu ấy, chúng ta nhắc bảo ḿnh và nhận biết ḿnh đă tiến triển đến đâu về ḷng khao khát ấy, hầu thôi thúc ḿnh gia tăng ḷng khao khát ấy cách mạnh mẽ hơn.

 

Quả vậy, tâm t́nh đi trước càng sốt sắng th́ hiệu quả theo sau càng phong phú. V́ thế, thánh Phaolô Tông Đồ nói : Anh em hăy cầu nguyện không ngừng. Điều ấy nghĩa là ǵ nếu không phải là : anh em hăy không ngừng khao khát cuộc sống hạnh phúc ; mà cuộc sống đó chẳng qua là sự sống đời đời ; anh em hăy xin Đấng duy nhất có thể ban cho anh em.

 

Xướng đáp Gr 29,13.12-11

X Các ngươi sẽ t́m Ta và các ngươi sẽ thấy, bởi v́ các ngươi sẽ hết ḷng kiếm Ta. Bấy giờ

* các ngươi đến cầu nguyện với Ta, Ta sẽ nhậm lời các ngươi.

Đ Chính Ta biết kế hoạch Ta định làm cho các ngươi, kế hoạch thịnh vượng chứ không phải tai ương, để các ngươi có một tương lai và một niềm hy vọng. *

 

Thánh Thi “Lạy Thiên Chúa”

Lạy Thiên Chúa,

Chúng con xin ca ngợi hát mừng,

Tuyên xưng Ngài là Đức Chúa.

Chúa là Cha, Đấng trường tồn vạn đại,

Hoàn vũ này kính cẩn suy tôn.

Trước nhan Chúa, các tổng thần phủ phục, *

Mọi thiên thần và đạo binh thiên quốc

Đều cảm tạ và cung chúc tôn thờ,

Chẳng khi ngừng vang dậy tiếng tung hô:

Thánh! Thánh! Thánh!

Chúa tể càn khôn là Đấng Thánh! *

Trời đất rạng ngời vinh quang Chúa uy linh.

Bậc Tông Đồ đồng thanh ca ngợi Chúa,

Bao vị ngôn sứ tán tụng Ngài.

Đoàn tử đạo quang huy hùng dũng,

Máu đào đổ ra minh chứng về Ngài,

Và trải rộng khắp nơi trần thế,

Hội Thánh Ngài hoan hỷ tuyên xưng:

Chúa là Cha lẫm liệt uy hùng,

Và Con Một Ngài chí tôn chí ái,

Cùng Thánh Thần, Đấng an ủi yêu thương.

Lạy Đức Kitô, Con Chúa Trời hằng sống,

Ngài là Chúa hiển vinh

Đă chẳng nề mặc lấy xác phàm

Nơi cung ḷng Trinh Nữ

Hầu giải phóng nhân loại lầm than.

Ngài đă ra tay chiến thắng tử thần,

Mở cửa trời cho những ai tin tưởng.

Ngài hiển trị bên hữu Chúa Cha,

Ngày cuối cùng sẽ giáng lâm thẩm phán.

Cúi lạy Chúa, xin phù hộ bề tôi

Ngài cứu chuộc bằng bửu huyết tuôn tràn.

Xin được hợp đoàn cùng muôn thần thánh,

Phúc miên trường vui hưởng ánh vinh quang.

 

Lời nguyện

Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, xin tạo cho chúng con một tấm ḷng trung tín và quảng đại để chúng con nhiệt thành phụng sự Chúa. Chúng con cầu xin…

 

///THỨ HAI

Bài đọc 1 Et 3,1-15

Dân Do Thái bị đe doạ

Tính kiêu ngạo của quan Haman bị tổn thương là lư do khiến ông dự tính tiêu diệt dân Dothái. Nhưng ông vịn vào cớ của hết mọi thời đại : dân này không như các dân khác. Chúa Giêsu sẽ nói : Thế gian ghét anh em, v́ anh em không thuộc về thế gian. Đối với Hội Thánh cũng như đối với dân Dothái, đó là khởi đầu của muôn vàn cuộc bách hại.

 

Lời Chúa trong sách Étte.

1 Sau biến cố đó, vua Asuêrô thăng chức cho ông Haman, con ông Hămmơđatha, người Agác. Vua cất nhắc ông lên, đặt ông đứng đầu mọi khanh tướng hầu cận vua.2 Quần thần nhất nhất đều cúi chào bái lạy ông Haman v́ vua đă truyền như thế. Nhưng ông Moócđokhai đă chẳng cúi chào, cũng không bái lạy.3 Quần thần trong triều nói với ông Moócđokhai : "Tại sao ông lại lỗi lệnh vua ?"4 Ngày nào họ cũng lặp đi lặp lại như thế, nhưng ông vẫn không chịu nghe ; Ông cho họ thấy ông là người Dothái. Họ mới tŕnh sự việc cho ông Haman để xem ông Moócđokhai c̣n giữ thái độ đó nữa không.

 

5 Khi thấy ông Moócđokhai chẳng cúi chào, cũng không bái lạy ḿnh, ông Haman hết sức phẫn nộ.6 Nhưng đối với ông Haman, v́ đă biết ông Moócđokhai thuộc dân tộc nào, nên nếu chỉ giết một ḿnh ông ta thôi th́ tầm thường quá. V́ vậy, ông Haman t́m cách tiêu diệt cả dân tộc của ông Moócđokhai. Đó là hết mọi người Dothái đang sống trong toàn vương quốc của vua Asuêrô.

 

7 Tháng thứ nhất, tức tháng Nixan, vào năm thứ mười hai triều đại vua Asuêrô, người ta gieo "Pua" (nghĩa là bắt thăm) trước mặt ông Haman để biết ngày biết tháng. Thăm rơi trúng ngày mười bốn tháng thứ mười hai, tức là tháng Ađa.8 Ông Haman thưa với vua Asuêrô : "Trong khắp các miền thuộc vương quốc của đức vua, có một dân sống tản mác, rải rác đó đây giữa các dân. Luật lệ của chúng không giống như luật lệ của bất cứ dân nào khác. Luật lệ của đức vua, chúng chẳng tuân chẳng giữ. Quyền lợi của đức vua không cho phép để chúng yên như vậy.9 Nếu đẹp ḷng đức vua, th́ xin đức vua cho viết sắc lệnh tru diệt chúng. Thần xin cân ba trăm ngàn kư bạc trao cho công chức đem vào kho bạc của đức vua."

 

10 Bấy giờ, vua tháo bửu ấn ở tay ra trao cho cừu địch của người Dothái là ông Haman, con ông Hămmơđatha, người Agác.11 Rồi vua nói với ông Haman : "Ta tặng khanh số bạc đó, trao cho khanh cả dân tộc đó nữa. Khanh muốn làm ǵ chúng th́ làm."

 

12 Ngày mười ba tháng thứ nhất, các kư lục của vua được triệu đến. Trên sắc lệnh có ghi tất cả những ǵ ông Haman đă chỉ thị để gửi đến các thủ hiến của nhà vua, các tổng đốc coi mỗi miền và các quan chức coi từng sắc dân, miền nào theo chữ viết của miền ấy, dân nào theo tiếng nói của dân ấy. Sắc lệnh được soạn thảo nhân danh vua Asuêrô và niêm phong bằng bửu ấn nhà vua,13 rồi được trao cho các phu trạm mang đến tất cả các miền dưới quyền vua. Mục đích là thủ tiêu, giết chết, tru diệt mọi người Dothái từ trẻ đến già, cả thiếu nhi lẫn phụ nữ, nội trong một ngày, ngày mười ba tháng thứ mười hai, tức là tháng Ađa. Ngoài ra, sắc lệnh c̣n cho phép cướp của nữa.

 

13 a) Sau đây là bản sao sắc lệnh trên : "Đại vương Asuêrô viết như sau cho các tổng đốc của một trăm hai mươi bảy miền từ Ấnđộ đến Êthióp, và cho các quan chức dưới quyền : 13 b) Cai quản muôn dân nước, làm bá chủ toàn cơi địa cầu, ta không muốn say men quyền bính mà sinh thói kiêu căng, nhưng muốn luôn lănh đạo sao cho khoan dung hiền hoà, không ngừng bảo đảm cho toàn dân một cuộc sống yên ổn, giúp cho vương quốc được thái b́nh thịnh vượng, ai nấy dễ dàng đi lại cho đến tận biên thuỳ, để phục hồi cảnh an hoà mọi người hằng mong ước. (13c) Để t́m cách thực hiện dự kiến trên, ta đă bàn hỏi các vị cố vấn. Trong số đó, quan Haman giữa chúng ta là một nhân vật khôn ngoan xuất chúng, đă tỏ ra luôn thành tâm thiện chí và hết dạ tín trung, nên trong vương quốc, đă lên tới địa vị thứ nh́.

 

(13d) Ông đă cho ta thấy rằng có một dân đầy ác ư, sống trà trộn với trăm họ trên toàn cơi địa cầu, theo những luật lệ đối nghịch hẳn với các nước khác, chẳng hề đếm xỉa đến sắc dụ của các vua, khiến cho vương quốc không thể đạt tới sự thống nhất, vương quốc mà ta vẫn điều khiển một cách hoàn hảo, không ai chê trách được. 13 đ) Vậy, ta khẳng định rằng đây là lũ dân lập dị, luôn chống đối mọi người, có nếp sống khác biệt v́ tuân hành thứ luật pháp xa lạ, phạm những tội ác tầy trời chống lại quyền lợi của ta, với ư đồ gây bất ổn cho vương quốc.

 

13 e) Do đó, ta truyền rằng : ngày mười bốn tháng thứ mười hai, tức là tháng Ađa năm nay, phải tận diệt tất cả những kẻ được đề cập trong văn thư của quan Haman, người đă được ta bổ nhiệm làm phụ chính lo việc triều đ́nh cho ta. Phải lấy gươm của địch thù chúng mà tận diệt chúng cùng với vợ con, không nương tay, không thương xót. (13g) Như thế, nội trong một ngày, những kẻ xưa nay vốn đầy ác ư đều bị tống xuống âm phủ, để từ đây, việc triều chính được măi măi ổn định và êm xuôi."

 

14 Sắc chỉ này đă được công bố và có hiệu lực luật pháp cho mọi miền. Bản sao cũng đă được phổ biến, để vào ngày ấn định, mọi dân sẵn sàng tuân theo.15 Theo lệnh vua, phu trạm tức tốc lên đường. Sắc chỉ được công bố tại thành Susan. Trong khi vua cùng quan Haman ngồi chè chén say sưa, th́ cả thành Susan đều xôn xao náo động.

 

Xướng đáp x. Et 4,17a ; Tv 43,26 ; Et 13,17

X Lạy Chúa, Chúa là Vua toàn năng, Chúa nắm quyền điều khiển vũ trụ. Khi Chúa muốn, nào ai đương đầu nổi với Ngài.

* V́ danh Chúa, xin giải thoát chúng con.

Đ Xin nghe lời chúng con nguyện cầu, cảnh tang tóc chúng con, xin biến thành hoan lạc. *

 

Bài đọc 2

Chúng ta chú tâm đến việc cầu nguyện vào những giờ ấn định

 

Trích thư của thánh Âutinh, giám mục, gửi cho Prôba.

Chúng ta hăy luôn khao khát cuộc sống hạnh phúc đến từ Thiên Chúa là Chúa, và chúng ta hăy cầu nguyện luôn. V́ thế, khi dứt bỏ các mối bận tâm và công việc khác có thể làm cho chính ḷng khao khát ra nguội lạnh, chúng ta chú tâm đến việc cầu nguyện vào những giờ ấn định. Những lời cầu nguyện nhắc nhở cho chúng ta mục đích ḿnh khao khát hướng tới, kẻo ḷng khao khát bắt đầu ra nguội lạnh, sẽ nguội lạnh hẳn và tắt lịm đi, trừ phi được nung nấu thường xuyên hơn.

 

Bởi đó, điều thánh Phaolô Tông Đồ nói : Anh em cứ giăi bày trước mặt Thiên Chúa những điều anh em thỉnh cầu, th́ không được hiểu giăi bày với Thiên Chúa, Đấng đă biết những điều ấy ngay cả trước khi chúng có, nhưng là giăi bày với chính chúng ta trước mặt Thiên Chúa nhờ ḷng kiên tŕ, chứ không phải trước mặt người đời với ḷng khoác lác.

 

Như vậy cầu nguyện có lâu giờ đi nữa th́ cũng không phải là xấu và vô ích, miễn là việc đó không ngăn cản những hoạt động tốt lành và cần thiết khác, mặc dù như tôi đă nói, trong những công việc ấy vẫn phải cầu nguyện luôn với chính ḷng khao khát đó. Quả thật, không phải như một số người nghĩ, hễ cầu nguyện lâu một chút là đâm ra lải nhải. Nói nhiều là lộ chuyện, yêu nhiều là chuyện khác. Thật thế, có lời chép về chính Chúa rằng : Người thức suốt đêm để cầu nguện và cầu nguyện tha thiết hơn. Tại đây, Nguời đă làm ǵ khác hơn là làm gương cho chúng ta? Người là Đấng cầu xin đúng lúc ở đời này ; Người là Đấng cùng với Chúa Cha nhậm lời chúng ta cầu nguyện ở đời sau.

Người ta nói rằng các tu sĩ bên Ai Cập năng cầu nguyện, nhưng cầu nguyện rất vắn tắt và nhanh chóng như mũi tên phóng ra, kéo sự chăm chú là điều rất cần thiết cho người cầu nguyện, giảm sút và tiêu tan đi v́ những khoảng thời gian quá kéo dài. Qua đó, họ cũng cho ta thấy rơ là như chúng ta không được cưỡng bức sự chăm chú này, khi nó không thể kéo dài, th́ cũng đừng vội cắt đứt, nếu như nó c̣n kéo dài.

 

Quả vậy khi cầu nguyện th́ đừng nói nhiều, nhưng phải tha thiết nguyện xin, nếu sự chăm chú vẫn c̣n sốt sắng. Cầu nguyện mà nói nhiều th́ khác nào bàn chuyện khẩn thiết mà nói những lời dư thừa. Tha thiết nguyện xin là lấy ḷng con thảo mà kiên tŕ gơ cửa Đấng chúng ta cầu xin. Thường thường việc này được thực hiện bằng lời than thở hơn bằng tiếng nói, bằng tiếng khóc hơn bằng lời lẽ, v́ Thiên Chúa lấy ṿ mà đựng nước mắt chúng ta và tiếng con than thở, làm sao Chúa chẳng tường ? Chúa là Đấng dùng Lời mà tác tạo muôn loài và không cần đến lời lẽ phàm nhân.

 

Xướng đáp Tv 87,23 ; Is 26,8

X Lạy Chúa là Thiên Chúa cứu độ con, trước Thánh Nhan, đêm ngày con kêu cứu.

* Nguyện cho lời kinh vọng tới Ngài.

Đ Hồn chúng con khát vọng Thánh Danh, và ước mong tưởng nhớ đến Ngài. *

 

Lời nguyện

Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, xin tạo cho chúng con một tấm ḷng trung tín và quảng đại để chúng con nhiệt thành phụng sự Chúa. Chúng con cầu xin…

 

///THỨ BA

Bài đọc 1 Et 4,18.8a.917

Quan Haman dự tính tiêu diệt dân Do Thái

Để cứu dân ḿnh, hoàng hậu Étte phải liều mạng. Bà chấp nhận v́ tin vào sức mạnh của lời cầu nguyện, của việc giữ chay cũng như của sự nâng đỡ tinh thần của anh em đồng bào. Trung thành với Chúa, tin vào ơn trợ giúp của Người, và hăm ḿnh đền tội là những phương thế hữu hiệu để Thiên Chúa chạnh ḷng thương dân Người.

 

Lời Chúa trong sách Étte.

1 Khi biết tất cả những sự kiện trên, ông Moócđokhai xé áo ḿnh ra, mặc lấy bao bị và rắc tro lên người. Ông ra giữa thành, lớn tiếng thốt lên những lời đắng cay chua xót.2 Ông đến tận trước cung môn là nơi không ai được phép vào mà lại mặc bao bị.3 Trong mỗi miền, bất cứ nơi đâu mệnh lệnh và chỉ dụ của vua được chuyển tới, người ta cũng đều chứng kiến một cảnh thê lương buồn thảm : dân Dothái ăn chay, khóc lóc, than van. Nhiều người nằm trên tro trên đất, ḿnh mặc bao bị.

 

4 Các cung nữ và thái giám báo tin cho hoàng hậu Étte. Bà hết sức bàng hoàng. Bà gửi áo ra cho ông Moócđokhai mặc và xin ông cởi bỏ bao bị. Ông không chịu nghe.5 Bà mới cho gọi ông Hathác là một trong những viên thái giám nhà vua đặt làm người phục vụ bà. Bà truyền cho ông đi gặp ông Moócđokhai để biết sự việc đă xảy ra và lư do của sự việc đó.

 

6 Ông Hathác ra gặp ông Moócđokhai tại quảng trường đối diện với cung môn.7 Ông Moócđokhai cho ông biết tất cả những sự việc đă xảy ra và biết chuyện ông Haman đă hứa sẽ cân một số bạc bỏ vào kho của vua nhằm tru diệt người Dothái.8 Ông Moócđokhai trao cho ông bản sao sắc chỉ đă công bố ở Susan nhằm huỷ diệt họ, mục đích là cho bà Étte xem bản sao đó và biết các sự việc. Ông Moócđokhai cũng nhắn bà phải vào chầu vua để xin vua tỏ ḷng nhân hậu và khẩn nài vua thương xót dân tộc bà. Ông nhắn rằng: (8a) "Con hăy nhớ lại thủa hàn vi của con, những ngày con đă được chính tay cha nuôi dưỡng. Người chiếm địa vị thứ nh́ trong vương quốc là Haman đă đề nghị vua chống lại chúng ta, nhằm dẫn chúng ta đến chỗ chết. (8b) Con hăy cầu khẩn Chúa và xin vua thương t́nh tha chết cho chúng ta."

 

9 Ông Hathác trở vào, chuyển những lời này đến hoàng hậu Étte.10 Bà ngỏ lời với ông Hathác, truyền cho ông ra gặp ông Moócđokhai và nói :11 "Bề tôi của vua và dân các miền thuộc quyền vua, ai cũng biết rơ : bất cứ người nào, nam cũng như nữ, không được triệu vời mà dám vào chầu vua ở phía trong sân rồng, th́ đều chịu một luật duy nhất là phải chết, trừ phi vua giơ phủ việt vàng ra, người ấy mới được sống. Mà con đây đă ba mươi ngày rồi không được triệu vào chầu vua."

 

12 Người ta cho ông Moócđokhai biết những điều bà Étte đă nói.13 Ông nhờ người trả lời : "Đừng tưởng rằng trong cả dân Dothái, chỉ có ḿnh con ở tại hoàng cung là được thoát nạn.14 V́ đến lúc này mà con vẫn cứ ngậm miệng làm thinh, th́ người Dothái sẽ nhận được sự trợ giúp và giải cứu từ một nơi khác ; c̣n chính con và nhà cha con lại bị tru diệt. Biết đâu không phải v́ thời buổi như thế này mà con đă lên tới địa vị hoàng hậu ? "

 

15 Bà Étte nhờ người trả lời ông Moócđokhai :16 "Xin cha cứ đi tập hợp tất cả những người Dothái ở Susan lại. Xin bà con ăn chay cầu nguyện cho con. Suốt ba ngày đêm, đừng ăn uống ǵ cả. Con và các cung nữ cũng sẽ làm như thế. Sau đó, dầu pháp luật không cho phép, con cũng vào chầu vua. Có chết con cũng đành."17 Ông Moócđokhai rút lui và làm theo mọi điều hoàng hậu Étte dặn.

 

Xướng đáp x. Et 14,14 ; Tb 3,13 ; Gđt 6,15

X Lạy Thiên Chúa Ítraen, ngoài Chúa ra, con không hề đặt hy vọng vào ai khác.

* Chúa giận nhưng Chúa sẽ xót thương, và tha tội cho những người lâm cơn khốn khổ.

Đ Lạy Chúa là Thiên Chúa tạo thành trời đất, xin nh́n đến phận hèn của chúng con.*

 

Bài đọc 2

Lời kinh Chúa Giêsu dạy các Tông Đồ

 

Trích thư của thánh Âutinh, giám mục, gửi cho Prôba, về kinh Lạy Cha.

Lời nói cần cho chúng ta để nhắc nhở cho chúng ta thấy ḿnh xin ǵ ; nhưng chúng ta hăy tin rằng không phải v́ những lời đó mà chúng ta làm cho Chúa biết hay phải xiêu ḷng.

 

Vậy khi chúng ta nói : Xin làm cho danh thánh Cha vinh hiển, là chúng ta nhắc bảo ḿnh ao ước cho danh Người vốn là thánh được mọi người nh́n nhận là thánh mà không bị khinh chê. Điều này có lợi cho loài người chứ không phải cho Thiên Chúa. Dù chúng ta muốn hay không muốn th́ triều đại Chúa vẫn đến, nhưng khi chúng ta đọc : Triều đại Cha mau đến là chúng ta thôi thúc ḷng ḿnh ao ước cho triều đại ấy đến với chúng ta và chúng ta cũng được trị v́ trong đó.

 

Khi chúng ta đọc : Ư Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời là chúng ta xin Người ban cho chúng ta chính sự tuân phục, để nhờ đó, ư của Người thể hiện nơi chúng ta như vẫn được các thiên thần của Người thi hành trên thiên quốc.

 

Khi chúng ta đọc : Xin Cha cho chúng con hôm nay lương thực hằng ngày th́ hai chữ hôm nay có nghĩa là thời bây giờ. Thời bây giờ hoặc là chúng ta xin những ǵ cần thiết, khi nêu lên phần quan trọng hơn cả, nghĩa là qua chữ lương thực, chúng ta có ư chỉ tất cả những nhu cầu ; hoặc là chúng ta xin lănh nhận bí tích dưỡng nuôi các tín hữu là bí tích cần thiết trong thời bây giờ, nhưng không phải để được hạnh phúc thời bây giờ mà là hạnh phúc vĩnh cửu.

 

Khi chúng ta đọc : Xin tha tội cho chúng con như chúng con cũng tha cho những người có lỗi với chúng con, chúng ta nhắc bảo ḿnh phải xin ǵ và phải làm ǵ để đáng lănh nhận.

Khi chúng ta đọc : Xin đừng để chúng con sa chước cám dỗ, chúng ta tự nhủ ḿnh xin điều đó, kẻo v́ thiếu ơn Người trợ giúp, hoặc là chúng ta bị lừa mà chiều theo cơn cám dỗ, hoặc v́ sầu khổ mà chịu thua.

 

Khi chúng ta đọc : Xin cứu chúng con cho khỏi sự dữ, chúng ta bảo ḿnh phải nghĩ rằng chúng ta chưa ở trong t́nh trạng hoàn hảo khiến chúng ta không c̣n phải chịu sự dữ nào nữa. Lời cầu xin này đặt ở cuối kinh “Lạy Cha” hiển nhiên là để giúp người tín hữu khi gặp bất cứ cơn khốn khó nào, cũng biết dùng câu này mà than thở, mà khóc lóc; biết bắt đầu cầu nguyện bằng câu đó, dừng lại trong đó và kết thúc ở đó. Quả thật, những lời này phải giúp chúng ta ghi nhớ những thực tại được diễn tả.

 

V́ dù chúng ta có đọc bất kỳ lời nào khác  những lời do người cầu nguyện đặt ra để khơi dậy ḷng sốt sắng, hoặc dựa theo để thêm ḷng sốt sắng  chúng ta cũng chẳng nói điều ǵ khác ngoài điều đă có trong kinh “Lạy Cha”, nếu chúng ta cầu nguyện cho đúng và thích hợp. C̣n bất cứ ai đọc lên điều ǵ không liên hệ với kinh Tin Mừng này th́ tuy người ấy cầu nguyện không sai trái nhưng cũng chỉ là cầu nguyện theo lối xác thịt. Tôi không hiểu tại sao lại không được bảo đó là sai trái, v́ những người được tái sinh bởi Chúa Thánh Thần chỉ nên cầu nguyện trong Thánh Thần mà thôi.

 

Xướng đáp 2 Mcb 1,5.3

X Xin Chúa là Thiên Chúa của anh em nhậm lời anh em cầu nguyện, và cho anh em được hoà giải với Người.

* Xin Người đừng bỏ mặc anh em trong buổi gian nan.

Đ Xin Người cho tất cả anh em hết một ḷng thờ phượng Người, và làm theo ư Người. "

 

Lời nguyện

Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, xin tạo cho chúng con một tấm ḷng trung tín và quảng đại để chúng con nhiệt thành phụng sự Chúa. Chúng con cầu xin…

 

///THỨ TƯ

Bài đọc 1 Et 4,17i-17aa

Lời cầu nguyện của hoàng hậu Étte

Trong những áng văn của thời hậu lưu đầy, ta thấy người lành thánh khi cầu nguyện bao giờ cũng có một phần nhận thức sắc bén về tội lỗi của dân và phải liên đới.

 

Lời Chúa trong sách Étte.

17 i) Toàn thể Ítraen hết ḷng hết sức kêu van Chúa, v́ cái chết ở trước mặt họ rồi.

17 k) Hoàng hậu Étte khắc khoải âu lo đến chết được, liền t́m đến nương ẩn bên Chúa. Tâm hồn sầu khổ, bà cởi bỏ y phục lộng lẫy, mặc áo tang vào. Thay cho dầu thơm quư giá, bà lấy bụi tro dơ bẩn rắc lên đầu ; bà hăm ḿnh phạt xác nhiệm nhặt ; thay v́ trang điểm trau chuốt, bà để cho tóc xoă rối bời. Bà cầu xin cùng Chúa, Thiên Chúa Ítraen :

 

17 l) "Lạy Chúa của con, lạy Vua chúng con, Ngài là Thiên Chúa duy nhất. Này con đang liều mạng, xin đến cứu giúp con. Con cô đơn, chẳng c̣n ai cứu giúp, ngoại trừ Ngài.

17 m) Lạy Chúa, trong chi tộc của cha ông, từ khi lọt ḷng mẹ, con từng được nghe biết là chính Ngài đă chọn Ítraen giữa muôn ngàn dân tộc, đă tuyển chọn cha ông chúng con giữa mọi bậc tiền bối của các ngài để làm thành gia nghiệp măi măi thuộc về Ngài. Ngài thực hiện cho cha ông chúng con mọi điều Ngài đă hứa.

 

17 n) Nay chúng con đă phạm tội trước nhan Ngài, và Ngài đă trao nộp chúng con vào tay kẻ thù địch v́ chúng con đă thờ các thần minh của chúng. Lạy Chúa, Ngài công minh chính trực xiết bao !

17 o) Bây giờ, tuy chúng con phải nuốt cay ngậm đắng làm nô lệ cho thù địch chúng con, chúng vẫn chưa lấy làm thoả măn. Chúng lại c̣n đặt tay lên tay các tượng thần của chúng, liên kết cùng thần minh nhằm huỷ bỏ mệnh lệnh Ngài đă ban, nhằm phá tan gia nghiệp của Ngài, dập tắt vinh quang không ngừng chiếu toả trên thánh điện, trên bàn thờ của Ngài,

 

17 p) nhằm mở miệng chư dân để họ hát mừng công đức các thần minh hư ảo và măi măi sùng bái ông vua mang xác phàm.

17 q) Lạy Chúa, xin đừng trao phủ việt của Ngài cho những ǵ hư ảo cũng đừng để cho thù địch nhạo cười khi chúng con gục ngă. Nhưng xin lấy mưu đồ của chúng mà quật lại chúng đi. Và những kẻ manh tâm hại chúng con, xin đưa ra làm gương cho thiên hạ.

 

17 r) Lạy Chúa, ngày chúng con gặp gian truân cùng khốn, xin nhớ đến chúng con mà chứng tỏ quyền năng của Ngài. Lạy Vua các thần minh, Đấng thống trị mọi kẻ cầm quyền, xin ban cho con ḷng dũng cảm,

17 s) và dạy con biết nói lời êm tai khi phải ra trước mặt loài sư tử. Xin đổi ḷng con sư tử ấy để nó căm thù kẻ chống lại chúng con, khiến cho hắn và quân đồng loă phải tiêu diệt hoàn toàn.

 

17 t) Thần dân Ngài, xin Ngài giải thoát. Con cô đơn, xin đến cứu giúp con. Lạy Chúa, ngoài Ngài ra, con đâu c̣n ai nữa !

17 u) Ngài thấu biết mọi sự trên đời, Ngài biết rơ ḷng con hằng căm ghét cái vinh của những kẻ không Lề Luật, và con cũng nhờm tởm gớm ghê việc chăn gối với những kẻ không cắt b́ cũng như với những người dân ngoại.

 

17 v) Ngài biết rơ con đang cùng đường túng thế, con ghê tởm cái huy hiệu kiêu hănh mang trên đầu trong những ngày xuất hiện trước công chúng ; con ghê tởm nó như ghê tởm cái khăn phải dùng khi khó ở. Con chẳng mang nó vào những ngày b́nh an.

17 x) Nữ tỳ của Chúa đă không hề đồng bàn với Haman, chẳng coi trọng tiệc tùng vua đăi, chẳng thèm uống thứ rượu tế thần.

 

17 y) Từ ngày thay đổi địa vị cho đến nay, nữ tỳ của Chúa chẳng hề được vui sướng nếu không có những niềm vui bên Ngài, lạy Chúa là Thiên Chúa tổ phụ Ápraham.

17 aa) Lạy Thiên Chúa quyền uy dũng lực trên hết thảy mọi người, xin nghe tiếng những kẻ sờn ḷng nản chí. Xin giải thoát chúng con khỏi tay những kẻ độc ác, xin giải thoát con khỏi cơn sợ hăi này !"

 

Xướng đáp x. Et 4,17r.17s ; G 24,23

X Lạy Vua các thần minh, Đấng thống trị mọi kẻ cầm quyền, xin ban cho con ḷng dũng cảm,

* và dạy con biết nói lời êm tai.

Đ Lạy Chúa, xin ban cho chúng con dịp may để hối cải, và đừng khoá miệng những người ngợi khen Chúa. *

 

Bài đọc 2

Bạn sẽ không t́m thấy ǵ mà không có trong kinh Lạy Cha

 

Trích thư của thánh Âutinh, giám mục, gửi cho Prôba.

Giả như có ai nói : Xin làm cho chư dân nhận biết Ngài, như chúng con từng nhận biết xưa nay ; xin cho các ngôn sứ của Ngài được mọi người tin tưởng, th́ người ấy có nói ǵ khác hơn là : Xin làm cho danh thánh Cha hiển vinh ?

 

Ai nói : Lạy Chúa quyền năng, xin phục hồi chúng con, xin toả ánh tôn nhan rạng ngời để chúng con được ơn cứu độ, th́ người ấy đâu có nói ǵ khác hơn là : Xin làm cho danh thánh Cha hiển vinh ?

Ai nói : Theo lời hứa của Ngài, xin cho con vững bước, chớ để sự gian tà chế ngự được con, th́ người ấy đâu có nói ǵ khác hơn là : Xin cho ư Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời ?

 

Ai nói : Xin đừng để con túng nghèo, cũng đừng để cho con giàu có, th́ người ấy đâu có nói ǵ khác hơn là : Xin Cha cho chúng con hôm nay lương thực hằng ngày ? Ai nói : Lạy Chúa, xin nhớ đến vua Đavít và ḷng nhân hậu của vua hoặc : Lạy Chúa, nếu con đă làm như thế, nếu tay con đă làm điều bất chính, nếu con báo oán kẻ đă hại con, th́ người ấy đâu có nói ǵ khác hơn là : Xin tha tội cho chúng con như chúng con cũng tha cho những người có lỗi với chúng con.

 

Ai nói : Lạy Thiên Chúa của con, xin cứu con khỏi lũ địch thù, bênh đỡ con chống lại kẻ tấn công, th́ người ấy đâu có nói ǵ khác hơn là : Xin cứu chúng con cho khỏi sự dữ ?

Và nếu bạn điểm qua hết mọi lời cầu xin lành thánh, theo tôi nghĩ, bạn sẽ chẳng t́m thấy lời nào mà không được chứa đựng hay thâu tóm trong kinh Lạy Cha. Do đó, khi cầu nguyện, người ta được tự do dùng lời này hay lời khác để nói cũng những ư ấy, nhưng không được tự do nói những ư khác.

 

Đó là những điều chúng ta phải cầu xin không chút do dự cho ḿnh, cho người thân, cho kẻ xa lạ và cho cả kẻ thù nữa, mặc dù trong ḷng người cầu nguyện có thể nảy sinh t́nh cảm hướng về người này hay người khác, tuỳ theo mối quan hệ gần hay xa.

 

Tôi nghĩ bây giờ không những bạn đă biết phải có thái độ nào trong khi cầu xin, mà c̣n biết phải cầu xin điều ǵ nữa. Được như thế, không phải là do tôi dạy dỗ mà do Đấng đă đoái thương dạy dỗ tất cả chúng ta.

 

Ta phải t́m kiếm cuộc sống hạnh phúc và phải xin Chúa là Thiên Chúa ban cho ta cuộc sống ấy. Hạnh phúc là ǵ th́ nhiều người đă bàn luận đủ cách. Nhưng chúng ta cần ǵ phải đi hỏi nhiều người và bàn luận đủ cách như thế. Trong Sách Thánh đă có nói một câu vắn tắt và chân thật như sau : Hạnh phúc thay dân tộc nào được Chúa Trời làm Chúa. Để chúng ta được ở trong dân này và có thể chiêm ngưỡng Thiên Chúa cũng như sống măi với Người, chúng ta phải nhớ điều này : Mục đích của luật là đưa tới đức mến phát xuất từ tâm hồn trong sạch, từ lương tâm tốt lành và đức tin không giả h́nh.

 

Trong ba điều kể trên lương tâm tốt lành thế cho đức cậy. Vậy đức tin cậy mến đưa người cầu nguyện đến cùng Thiên Chúa, nghĩa là người có ḷng tin cậy ước ao và biết cân nhắc những ǵ phải xin cùng Thiên Chúa dựa theo kinh Lạy Cha.

 

Xướng đáp Tv 101,2 ; 18 ; 129,2

X Lạy Chúa, xin nghe lời con cầu khẩn, tiếng con kêu, mong được thấu tới Ngài.

* V́ Chúa chẳng khinh thường lời dân bị bóc lột nguyện xin.

Đ Dám xin Ngài lẳng tai để ư nghe lời con tha thiết nguyện cầu. *

 

Lời nguyện

Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, xin tạo cho chúng con một tấm ḷng trung tín và quảng đại để chúng con nhiệt thành phụng sự Chúa. Chúng con cầu xin…

 

///THỨ NĂM

Bài đọc 1 Et 5,15 ; 7,1-10

Sau bữa tiệc của hoàng hậu Étte, Haman bị treo cổ

Haman bị treo cổ như chính y định làm cho đối thủ của y. Đó là đề tài cổ điển của các sách Khôn ngoan : Kẻ ác sớm muộn ǵ cũng sẽ rơi vào cạm bẫy do nó bày ra. Hiển nhiên là có bàn tay Chúa can thiệp, dù tác giả không trực tiếp nói ra.

 

Lời Chúa trong sách Étte.

5, 1 Ngày thứ ba, cầu nguyện xong, hoàng hậu Étte bỏ áo cầu nguyện, mặc phẩm phục huy hoàng. (1a) Đẹp lộng lẫy, bà cầu khẩn Thiên Chúa là Đấng thấu suốt và cứu độ mọi người. Rồi bà đem theo hai cung nữ : bà tựa vào một cô, trông thật thướt tha duyên dáng ; c̣n cô kia theo sau, nâng đuôi áo cho bà. (1b) Bà hết sức xinh đẹp, đôi má tươi hồng, vẻ mặt hớn hở, dễ thương, nhưng ḷng đau như thắt v́ khiếp sợ. (1c) Qua các cửa, bà đến trước mặt vua.

 

Vua ngự trên ngai báu, mang trọn bộ long bào dùng trong những buổi triều yết, ḿnh đầy vàng bạc châu báu, dáng vẻ rất đáng sợ. (1d) Vua ngẩng mặt lên nh́n, đôi mắt rực sáng, giận dữ đến cực độ. Hoàng hậu khuỵu xuống, tái mặt đi v́ yếu sức ; bà dựa đầu vào cô cung nữ đi trước. (1đ) Thiên Chúa làm cho vua đổi ḷng, khiến vua ra dịu hiền. Từ trên ngai vàng, vua lo âu lao ḿnh xuống, đưa cánh tay đỡ lấy bà cho đến khi bà tỉnh lại. Rồi vua lấy lời trấn an khích lệ bà : (1e) "Sao thế, Étte ? Ta là anh của em mà ! Yên tâm đi ! Em không phải chết đâu ! Lệnh của ta chỉ áp dụng cho thường dân thôi. Lại đây em ! "2 Vua đưa phủ việt vàng lên đặt vào cổ bà, rồi ôm hôn bà và nói : "Hăy nói cho ta hay ! " (2a) Bà nói với vua : "Tâu chúa thượng, thiếp nh́n thấy ngài giống như thiên sứ của Thiên Chúa.

 

Tâm hồn thiếp bị rúng động v́ khiếp sợ vẻ oai nghi của ngài. Quả thế, tâu chúa thượng, ngài thật kỳ diệu và long nhan ngài thật hấp dẫn ! " (2b) Đang nói thế bà lại khuỵu xuống. Vua bị rúng động, c̣n các cận thần th́ t́m cách làm cho bà tỉnh lại.3 Vua nói với bà : "Hoàng hậu Étte, chuyện ǵ thế ? Khanh muốn xin ǵ ? Dù nửa nước ta cũng sẽ ban ! "4 Bà Étte đáp : "Nếu đẹp ḷng đức vua, th́ hôm nay, xin đức vua cùng quan Haman đến dự yến tiệc thiếp đă dọn hầu đức vua."5 Vua liền nói : "Hăy mau mau triệu Haman đến để làm như Étte vừa nói." Vua đă cùng quan Haman đến dự yến tiệc bà Étte dọn.

 

7, 1 Vua và Haman đến dự yến tiệc với hoàng hậu Étte.2 Ngày thứ hai này, giữa tiệc rượu, vua cũng lại nói với bà Étte : "Hoàng hậu Étte, khanh thỉnh cầu ǵ, ta sẽ ban. Khanh xin ǵ, dù nửa nước, ta cũng sẽ ban cho."3 Hoàng hậu Étte đáp : "Nếu thiếp được đức vua thương chiếu cố và nếu đẹp ḷng đức vua, th́ xin nhận lời thiếp khẩn cầu mà cho thiếp được sống, xin nghe lời thiếp nài van mà cho dân thiếp được sống,4 v́ thiếp và dân của thiếp đă bị bán đứng cho người ta triệt hạ, giết chết, tru diệt. Giả như bề tôi đây có bị bán làm tôi trai tớ gái người ta, thiếp sẽ chẳng nói ǵ ; nhưng đối phương sau này không thể bù đắp được thiệt hại mà đức vua sẽ phải chịu."

 

5 Vua Asuêrô ngỏ lời với hoàng hậu Étte : "Tên đó là ai ? Kẻ cả gan hành động như thế hiện đang ở đâu ? "6 Bà Étte thưa : "Đối phương ấy, địch thù ấy, chính là tên Haman khốn nạn này đây ! " Trước mặt vua và hoàng hậu, Haman kinh hoàng sợ hăi.7 Vua bừng bừng nổi giận, đứng lên, bỏ tiệc rượu, đi ra ngự uyển. C̣n Haman th́ ở lại nài xin hoàng hậu Étte cứu sống ḿnh, v́ y quá hiểu : thảm hoạ sẽ xảy đến cho y, vua đă quyết định rồi. 8 Khi vua từ ngự uyển trở lại pḥng tiệc rượu th́ Haman đă nằm vật xuống giường, bên cạnh bà Étte. Vua nói : "Lại c̣n tính xâm phạm đến cả hoàng hậu tại hoàng cung, ngay khi ta có mặt hay sao ? "

 

Vua vừa nói xong, người ta liền lấy khăn che mặt Haman lại.9 Một trong các thái giám là ông Khácvôna nói trước mặt vua : "Ḱa, sẵn có cái giá Haman dựng lên để treo cổ ông Moócđokhai. Chính nhờ lời báo cáo của ông này mà đức vua đă thoát nạn. Cái giá đó cao hai mươi lăm thước, dựng ngay tại nhà Haman." Vua liền nói : "Treo cổ y lên đó ! "10 Haman bị treo cổ lên cái giá dành sẵn cho ông Moócđokhai. Thế là nhà vua hả giận.

 

Xướng đáp x. Et 10,3ef ; Is 48,20

X Ítraen đă kêu cầu Đức Chúa, và Đức Chúa đă cứu dân Người.

* Đức Chúa đă giải thoát Ítraen khỏi tất cả mọi tai hoạ, đă làm những điềm thiêng dấu lạ chưa từng xảy ra nơi các dân tộc.

Đ Hăy cất tiếng reo ḥ, loan tin ấy cho mọi người nghe : Đức Chúa đă chuộc Giacóp tôi tớ Người.

 

Bài đọc 2

Chúng ta không biết cầu nguyện thế nào cho phải

 

Trích thư của thánh Âutinh, giám mục, gửi cho Pôba.

Có lẽ anh c̣n muốn t́m hiểu tại sao thánh Phaolô tông đồ nói : Chúng ta không biết cầu nguyện thế nào cho phải, v́ không thể nào tin được rằng chính người cũng như những kẻ được người dạy bảo như thế lại không biết đến kinh Lạy Cha.

 

Thánh Phaolô tông đồ cũng tỏ ra không biết cầu nguyện thế nào cho phải ; chẳng vậy, có lẽ người đă biết cầu nguyện thế nào, khi Thiên Chúa để cho thân xác người bị một cái dầm đâm vào, một thủ hạ của Xatan vả mặt, để người khỏi tự cao tự đại về những mặc khải phi thường người đă nhận được. Đă ba lần người xin Chúa cho thoát khỏi nỗi khổ ấy : điều này chứng tỏ người đă không biết cầu nguyện thế nào cho phải. Cuối cùng, người đă nghe Chúa trả lời tại sao điều một tông đồ tầm cỡ như người xin, lại không được thể hiện và không nên được thể hiện, khi Chúa nói : Ơn của Thầy đă đủ cho con, v́ sức mạnh của Thầy được biểu lộ trọn vẹn trong sự yếu đuối.

 

Vậy trong các cơn thử thách có thể vừa sinh ích vừa gây hại, chúng ta không biết cầu nguyện thế nào cho phải. Nhưng v́ các cơn thử thách ấy gay go, nặng nề và đi ngược với cảm quan yếu đuối của chúng ta, nên theo khuynh hướng chung của con người, chúng ta thường xin cất những thứ đó khỏi chúng ta. Tuy nhiên, chúng ta phải gắn bó với Chúa là Thiên Chúa chúng ta, để nếu Người không cất đi những thứ đó th́ chúng ta cũng không nên nghĩ ḿnh bị Người bỏ rơi, nhưng thực ra với ḷng kiên tŕ chịu đựng khó khăn, chúng ta hy vọng sẽ được những sự lành lớn lao hơn.

 

V́ như vậy, sức mạnh được biểu lộ trọn vẹn trong sự yếu đuối. Những lời này được viết ra để đừng ai tự phụ nếu được nhận lời, v́ có lẽ người ấy xin một điều mà nếu được sẽ làm cho ḿnh đau khổ dữ dằn hơn ; hoặc v́ được thành đạt mà ra hư hỏng đến nỗi sụp đổ hoàn toàn. Vậy trong những trường hợp như thế, chúng ta không biết cầu nguyện thế nào cho phải.

 

Bởi vậy, nếu có ǵ xảy ra trái với những điều chúng ta cầu nguyện, th́ nhờ kiên nhẫn chịu đựng và biết tạ ơn trong mọi sự, chúng ta không được mảy may nghi ngờ rằng điều đó phải xảy ra như thế theo ư Chúa hơn là theo ư chúng ta. Về điều này, Đấng là vị Trung Gian đă nêu gương cho chúng ta. Sau khi nói : Lạy Cha, nếu được xin Cha cho con khỏi uống chén này, Người liền thêm : Nhưng xin đừng theo ư con mà xin theo ư Cha, Cha ơi ! Như thế, khi chấp nhận uống chén với tư cách một con người, Đấng ấy đă làm cho ư muốn nhân loại nơi ḿnh biến đổi. Bởi đó, đúng là qua sự vâng phục của một người mà nhiều người được nên công chính.

 

Xướng đáp Mt 7,7.8 ; Tv 144,18

X Anh em cứ xin th́ sẽ được ;

* v́ hễ ai xin th́ nhận được, ai t́m th́ sẽ thấy, ai gơ cửa th́ sẽ được mở cho.

Đ Chúa gần gũi tất cả những ai cầu khẩn Chúa, mọi kẻ thành tâm cầu khẩn Người.*

 

Lời nguyện

Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, xin tạo cho chúng con một tấm ḷng trung tín và quảng đại để chúng con nhiệt thành phụng sự Chúa. Chúng con cầu xin…

 

///THỨ SÁU

Bài đọc 1 Br 1,14 – 2,5 ; 3,18

Lời cầu xin tha thiết của người lưu đày

Những người Dothái hải ngoại khá thành công trong việc làm ăn, nhưng vẫn xem t́nh trạng của ḿnh như hậu quả của tội lỗi cha ông, như bằng cớ Thiên Chúa chưa hoàn toàn tha thứ cho họ.

 

Lời Chúa trong sách ngôn sứ Barúc.

1, 14 Sách chúng tôi gửi cho anh em đây, hăy đọc mà xưng thú tội lỗi trong Nhà ĐỨC CHÚA vào ngày lễ Lều và những ngày thuận tiện. 15 Sau đây là nội dung :

ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa chúng tôi, quả là Đấng công minh ; c̣n chúng tôi là những người Giuđa và cư dân Giêrusalem, 16 các vua và thủ lănh, tư tế và ngôn sứ cũng như các bậc cha ông, chúng tôi phải hổ ngươi bẽ mặt như ngày hôm nay th́ cũng đáng,17 v́ tất cả chúng tôi đă phạm tội trước nhan ĐỨC CHÚA,18 đă bất tuân, không nghe tiếng ĐỨC CHÚA là Thiên Chúa chúng tôi, không vâng theo các mệnh lệnh ĐỨC CHÚA đă đề ra trước mắt chúng tôi.

 

19 Từ ngày ĐỨC CHÚA đưa cha ông chúng tôi ra khỏi đất Aicập cho tới ngày nay, chúng tôi vẫn bất tuân đối với ĐỨC CHÚA là Thiên Chúa chúng tôi, vẫn làm ngơ không chịu nghe tiếng Người. 20 Cho nên, như sự việc xảy ra hôm nay đây, những bất hạnh và lời nguyền rủa vẫn đeo đuổi chúng tôi, đúng như ĐỨC CHÚA đă tuyên bố với ông Môsê tôi tớ Người, ngày Người đưa cha ông chúng tôi ra khỏi Aicập để ban cho chúng tôi miền đất tràn trề sữa và mật.

 

21 Chúng tôi đă không vâng nghe tiếng ĐỨC CHÚA là Thiên Chúa chúng tôi, không tuân giữ mọi lời các ngôn sứ Người đă sai đến với chúng tôi. 22 Mỗi người chúng tôi đă cứ theo ḷng dạ xấu xa ngoan cố của ḿnh mà phục dịch các thần khác, và làm điều dữ trước mặt ĐỨC CHÚA là Thiên Chúa chúng tôi.

 

2, 1 V́ thế, ĐỨC CHÚA thi hành lời đă phán liên quan đến chúng tôi, đến các thẩm phán lănh đạo Ítraen, đến các vua và thủ lănh của chúng tôi, đến người Ítraen và Giuđa. 2 Dưới cả ṿm trời này, chưa hề xảy ra điều ǵ giống như điều Người đă thực hiện tại Giêrusalem, như đă chép trong Luật Môsê : 3 đến độ trong chúng tôi, kẻ th́ ăn thịt con trai, người th́ ăn thịt con gái của ḿnh.

 

4 Người c̣n bắt các ngài luỵ phục tất cả các vương quốc chung quanh chúng tôi, khiến các ngài nên tṛ ô nhục, nên đồ ghê tởm giữa mọi dân chung quanh, nơi ĐỨC CHÚA đă phân tán các ngài đến. 5 Như thế, các ngài là những kẻ bị trị, chứ không phải là những người cai trị, bởi v́ chúng tôi đă xúc phạm đến ĐỨC CHÚA là Thiên Chúa chúng tôi, không vâng nghe tiếng Người.

 

3, 1 Lạy ĐỨC CHÚA toàn năng là Thiên Chúa Ítraen, kẻ kêu cầu Ngài đây là một tâm hồn sầu muộn và một ḷng trí ră rời. 2 Lạy ĐỨC CHÚA, xin lắng nghe, xin thương xót, v́ con đă phạm tội trước nhan Ngài. 3 V́ Ngài là Đấng muôn đời hiển trị ; c̣n chúng con th́ măi măi tiêu vong. 4 Vâng, lạy ĐỨC CHÚA toàn năng là Thiên Chúa Ítraen, xin nghe lời khẩn nguyện của chúng con là những tử vong của Ítraen, là con cháu của những người xưa kia đă xúc phạm đến Ngài, đă chẳng nghe tiếng ĐỨC CHÚA là Thiên Chúa của các vị ấy, để ngày nay những bất hạnh này vẫn bám sát chúng con.

 

5 Xin đừng chấp tội cha ông chúng con, nhưng trong giờ phút này, xin nhớ đến cánh tay và thánh danh Ngài. 6 Vâng, Ngài là ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa chúng con, và lạy ĐỨC CHÚA, chúng con sẽ ca tụng Ngài. 7 Sở dĩ Ngài đă ban cho chúng con ḷng kính sợ Ngài là để chúng con kêu cầu thánh danh. Nơi lưu đày, chúng con sẽ ca tụng Ngài, v́ chúng con đă loại khỏi tâm hồn chúng con mọi điều gian ác cha ông chúng con đă phạm trước nhan Ngài.

 

8 Hôm nay đây, chúng con đang ở nơi lưu đày, nơi Ngài đă phân tán chúng con, khiến chúng con thành tṛ ô nhục, thành lời nguyền rủa, thành khoản bồi hoàn cho tất cả những điều gian ác cho cha ông chúng con, những người đă từ bỏ ĐỨC CHÚA là Thiên Chúa chúng con.

 

Xướng đáp Ep 2,45 ; x. Br 2,12

X Thiên Chúa giàu ḷng thương xót và rất mực yêu mến chúng ta.

* Nên dầu chúng ta đă chết v́ sa ngă, Người cũng đă cho chúng ta được cùng sống với Đức Kitô.

Đ Chúng ta đă phạm tội, đă làm điều gian ác, đă ăn ở bất chính, ngược với mọi điều Người truyền dạy. *

 

Bài đọc 2

Thần Khí cầu thay  chúng ta

Trích thư của thánh Âutinh, giám mục, gửi cho Prôba.

Bất cứ ai xin Thiên Chúa một điều duy nhất, và kiếm t́m điều ấy, th́ hẳn người đó xin với tất cả ḷng xác tín vững vàng, cũng chẳng sợ bị thiệt tḥi khi lănh nhận. Nếu không có điều này, th́ bất cứ điều ǵ khác người ấy có nhận được cũng chẳng đem lại ích lợi ǵ chính đáng. Điều duy nhất đó là cuộc sống chân thật và hạnh phúc. Trong cuộc sống này, chúng ta được vui sướng chiêm ngưỡng Thiên Chúa đến muôn đời, sau khi trở thành bất tử và bất hoại cả về thể xác lẫn tinh thần. Chỉ v́ cuộc sống đó mà chúng ta t́m kiếm những điều khác và cầu xin một cách xứng hợp. Ai có đời sống đó th́ có mọi sự ḿnh muốn, v́ trong đời sống này, người ấy không thể muốn hay có điều ǵ không xứng hợp.

 

Quả thật, ở đó mới có nguồn mạch sự sống mà bây giờ chúng ta phải khao khát trong khi cầu nguyện, bao lâu chúng ta c̣n sống trong hy vọng và chưa nh́n thấy điều chúng ta hy vọng. Dưới cánh của Người, chúng ta được che chở ; mọi ước vọng của chúng ta đều ở trước Thánh Nhan, để chúng ta được no say vui hưởng sự phong phú của nhà Người, và nơi suối hoan lạc của Người, chúng ta được uống thoả thuê. V́ nơi Người có nguồn mạch sự sống, và trong ánh sáng của Người, chúng ta sẽ nh́n thấy ánh sáng.

 

Khi niềm khát vọng hạnh phúc của chúng ta được thoả măn, và khi chúng ta không c̣n ǵ phải than van kiếm t́m nữa, mà chỉ có điều chúng ta đang hoan hỉ nắm chắc trong tay. Quả vậy, điều ǵ chúng ta không thể suy tưởng được theo bản chất của nó th́ hẳn chúng ta không biết. Nhưng điều ǵ trí khôn suy tưởng được th́ chúng ta gạt bỏ, loại trừ, phủ nhận ; chúng ta biết rằng đó không phải là điều chúng ta t́m kiếm, dù chưa biết bản chất nó thế nào.

 

Vậy, như tôi nói, nơi chúng ta có một thứ ngu dốt và thông thái nào đó, nhưng thông thái nhờ Thần Khí của Thiên Chúa, Đấng trợ giúp chúng ta là những kẻ yếu hèn. Thật thế, thánh Phaolô Tông Đồ nói : Nếu chúng ta trông mong điều ḿnh chưa thấy, th́ đó là chúng ta bền chí đợi chờ ; người c̣n thêm : Cũng vậy, Thần Khí giúp đỡ chúng ta là những kẻ yếu hèn ; chúng ta không biết cầu nguyện thế nào cho phải ; nhưng chính Thần Khí cầu thay  bằng những tiếng rên siết khôn tả. Đấng thấu suốt tâm can biết Thần Khí muốn nói ǵ ; v́ Thần Khí cầu thay  cho các thánh theo đúng ư Thiên Chúa.

 

Chúng ta không được hiểu điều ấy theo nghĩa Thánh Thần của Thiên Chúa cầu thay  cho các tín hữu như một ai đó không phải là Thiên Chúa ; trái lại, trong Chúa Ba Ngôi, cùng với Chúa Cha và Chúa Con, Thánh Thần là Thiên Chúa bất biến, Thiên Chúa duy nhất. Quả thật, Người cầu thay  cho các thánh bởi v́ Người làm cho các thánh cầu thay  như có lời chép : Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em, thử thách anh em, để biết anh em có yêu mến Người không, nghĩa là để anh em biết điều đó.

 

Vậy, Người làm cho các thánh cầu thay  bằng những tiếng rên siết khôn tả, khi khơi dậy nơi các ngài niềm khát vọng thực tại lớn lao chưa được biết đến, mà hiện nay chúng ta đang bền chí đợi chờ. Quả vậy, diễn tả thế nào khi ao ước điều ḿnh không biết ? Nếu hoàn toàn không biết th́ cũng chẳng ước ao ; và ngược lại, nếu thấy rồi th́ chẳng c̣n ước ao và than van t́m kiếm nữa.

 

Xướng đáp Rm 8,26 ; Dcr 12,10

X Chúng ta không biết cầu nguyện thế nào cho phải ; nhưng

* chính Thần Khí cầu thay  chúng ta, bằng những tiếng rên siết khôn tả.

Đ Chúa phán : Ngày ấy Ta sẽ đổ thần khí xuống cho nhà Đavít và dân cư Giêrusalem, giúp chúng biết sống đẹp ḷng Ta và thiết tha cầu nguyện. *

 

Lời nguyện

Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, xin tạo cho chúng con một tấm ḷng trung tín và quảng đại để chúng con nhiệt thành phụng sự Chúa. Chúng con cầu xin…

 

///THỨ BẢY

Bài đọc 1 Br 3,9-15.24 – 4,4

Đức khôn ngoan là đặc ân của dân Ítraen

Trong tâm t́nh biết ơn, người Dothái đạo đức suy gẫm về ân huệ Chúa ban là Lề Luật, vừa như là nguồn gốc, vừa như là đỉnh cao của mọi lẽ khôn ngoan. Chính nhận thức này đem lại sự nâng đỡ cho người tín hữu sống trong một thế giới được tổ chức mà không có Chúa hay thậm chí chống lại Người.

 

Lời Chúa trong sách ngôn sứ Barúc.

3 9 Nghe đi nào, hỡi Ítraen, những mệnh lệnh tặng ban sự sống, hăy lắng tai hiểu lẽ khôn ngoan.

10 V́ đâu, Ítraen hỡi, v́ đâu ngươi phải nương thân trên đất thù địch, phải ṃn hao nơi xứ lạ quê người ?

11 V́ đâu ngươi bị nhiễm uế giữa đám thây ma, phải nằm chung với những người ở trong âm phủ ?

12 Âu cũng v́ ngươi đă bỏ Nguồn Mạch Khôn Ngoan.

 

13 Nếu ngươi cứ bước đi theo đường Đức Chúa, hẳn muôn đời ngươi đă được an vui.

14 Hăy học cho biết đâu là khôn ngoan, đâu là sức mạnh, đâu là thông hiểu, đâu là trường thọ và sự sống, đâu là ánh sáng soi con mắt, và đâu là b́nh an.

 

15 Nhưng ai t́m thấy nơi cự ngụ, và vào được kho tàng của đức khôn ngoan?

24 Hỡi Ítraen, nhà Thiên Chúa ngự lớn lao biết mấy, lănh địa của Người bát ngát dường bao,

25 lớn lao vô hạn, cao cả khôn lường !

26 Tại đó, từ nguyên thuỷ đă sinh ra những kẻ khổng lồ tiếng tăm lừng lẫy, vóc dáng to cao, thạo nghề chinh chiến.

 

27 Nhưng những người này, Thiên Chúa không chọn, cũng chẳng dạy cho con đường hiểu biết.

28 V́ thiếu hiểu biết, họ đă tiêu vong, đă tiêu vong, v́ họ điên rồ.

29 Ai lên trời chiếm được khôn ngoan, rời khỏi tầng mây mà đưa xuống ?

30 Ai vượt trùng dương để mong t́m được, rồi lấy vàng y đổi đem về ?

31 Đường khôn ngoan, nào ai biết được, nẻo khôn ngoan, mấy kẻ quan tâm ?

 

32 Chỉ ḿnh Đấng Toàn Tri mới biết đức khôn ngoan, chỉ có trí tuệ Người mới thông suốt được. Người đă thiết lập cơi đất cho bền vững muôn đời, đă cho thú vật tràn đầy mặt đất.

33 Người sai ánh sáng, ánh sáng liền đi ; gọi ánh sáng lại, ánh sáng run rẩy vâng lời.

34 Các tinh tú, mỗi ngôi ở vị trí ḿnh, tưng bừng chiếu sáng.

35 Người gọi chúng, chúng thưa : Có mặt, và hân hoan chiếu sáng mừng Đấng tạo nên ḿnh.

 

36 Chính Người là Thiên Chúa chúng ta, chẳng có ai sánh được như Người.

37 Mọi nẻo đường đưa tới hiểu biết, Người đều tinh thông, chính Người đă vạch ra cho Giacóp, tôi trung của Người, cho Ítraen, kẻ Người yêu quư.

38 Rồi đức khôn ngoan xuất hiện trên mặt đất và đă sống giữa loài người.

 

4, 1 Đức khôn ngoan là huấn giới của Thiên Chúa ghi trong Sách Luật, Luật tồn tại cho đến muôn đời. Ai gắn bó với Lề Luật th́ sẽ được sống ; c̣n ai ĺa bỏ ắt sẽ phải chết.

2 Hỡi Giacóp, hăy quay trở về đón nhận Lề Luật, hăy dơi theo ánh sáng của Lề Luật mà tiến bước về chốn huy hoàng !

3 Vinh quang của ngươi, chớ nhường cho người khác, đặc ân của ngươi, đừng trao cho dân ngoại.

4 Hỡi Ítraen, chúng ta có phúc dường nào, v́ được biết những ǵ làm đẹp ḷng Thiên Chúa !

 

Xướng đáp Rm 11,33 ; Br 3,32.37

X Sự giàu có, khôn ngoan và thông suốt của Thiên Chúa sâu thẳm dường nào !

* Quyết định của Người, ai ḍ cho thấu ! Đường lối của Người, ai theo dơi được !

Đ Chỉ ḿnh Đấng Toàn Tri mới biết đức khôn ngoan, chính Người đă soi sáng cho Ítraen, kẻ Người yêu quư. *

 

Bài đọc 2

Ngôi Lời, sự khôn ngoan của Thiên Chúa, đă trở nên người phàm

 

Trích bài giảng của thánh Phêrô Kim Ngôn, giám mục.

Thánh Phaolô tông đồ dạy rằng nhân loại bắt nguồn từ hai người : ông Ađam và Đức Kitô. Hai người này ngang hàng xét theo thể xác, nhưng xét về công trạng th́ không ngang hàng ; hoàn toàn giống nhau về cấu trúc thể xác, nhưng lại hoàn toàn khác nhau về nguồn gốc của mỗi người. Thánh Phaolô viết : Con người đầu tiên được dựng nên thành một sinh vật, c̣n Ađam cuối cùng là thần khí ban sự sống.

 

Ađam đầu tiên đă được Ađam cuối cùng dựng nên, được Người ban cho linh hồn để có sự sống ; Ađam cuối cùng tự ḿnh mà có, không phải nhờ ai khác ban sự sống cho ḿnh, nhưng chính Người rộng ban sự sống cho mọi loài. Ađam đầu được nhào nặn từ bùn đất thấp hèn, Ađam cuối được sinh ra từ cung ḷng cao quư của Đức Trinh Nữ. Nơi Ađam đầu, đất biến thành thể xác, nơi Ađam cuối, xác phàm được cất nhắc lên thành Thiên Chúa.

 

C̣n phải nói ǵ nhiều thêm nữa ? Đây là Ađam cuối, Người đă in h́nh ảnh ḿnh lên Ađam đầu, khi nhào nặn nên ông. Bởi thế, Người đă nhận lấy vai tṛ và danh tính của Ađam đầu, để con người mà Ađam cuối đă dựng nên theo h́nh ảnh ḿnh không phải hư mất. Đó là Ađam đầu tiên, đó là Ađam cuối cùng. Ađam đầu tiên có khởi đầu, c̣n Ađam cuối cùng không có cùng tận, v́ quả thật, người cuối cùng này mới chính là người đầu tiên như Người nói :

 

Ta là Khởi Nguyên và là Tận Cùng. Ta là Khởi Nguyên, nghĩa là không có khởi đầu. Ta là Tận Cùng, nghĩa là không có kết thúc. Nhưng thánh Phaolô tông đồ nói : Loài xuất hiện trước không phải là loài có thần khí, nhưng là loài có sinh khí ; loài có thần khí chỉ xuất hiện sau đó. Thật vậy, đất đai có trước hoa trái, nhưng đất đai không quư bằng hoa trái. Đất đai đ̣i ta phải rên siết và làm việc vất vả. C̣n hoa trái th́ cho ta của cải và sự sống.

 

Tác giả thánh vịnh lấy làm hiên ngang về thứ hoa trái này khi nói : Đất chúng ta trổ sinh hoa trái. Nhưng hoa trái nào vậy ? Đó là thứ hoa trái mà tác giả nói đến ở một chỗ khác : Chính con ruột của ngươi, Ta sẽ đặt lên thừa kế ngai vàng. Thánh Phaolô tông đồ c̣n nói thêm : Người thứ nhất bởi đất mà ra th́ thuộc về đất ; c̣n người thứ hai bởi trời mà đến th́ thuộc về trời.

 

Những kẻ thuộc về đất th́ giống như kẻ bởi đất mà ra ; c̣n nhưng kẻ thuộc về trời th́ giống như Đấng từ trời mà đến. Làm sao những kẻ sinh ra như thế đă có thể được nh́n nhận là như vậy, không phải v́ ở trong t́nh trạng đă sinh, mà v́ ở măi trong t́nh trạng đă được tái sinh ?

 

Thưa anh em, sở dĩ như vậy là v́ Thần Khí đă pha trộn cách mầu nhiệm ánh sáng của Người vào nước để làm suối trinh khiết nên phong phú; nhờ đó, những con người trần tục phát xuất từ bùn đất trong t́nh trạng khốn cùng, nay trở thành những con người thuộc về thiên giới và được nên giống Đấng đă dựng nên ḿnh. Vậy, v́ đă được tái sinh, đă được tái tạo theo h́nh ảnh của Đấng Hoá Công, chúng ta hăy thực thi điều thánh Phaolô tông đồ truyền dạy : Cũng như chúng ta đă mang h́nh ảnh người bởi đất mà ra, th́ chúng ta cũng hăy mang h́nh ảnh của Đấng từ trời mà đến.

 

Như chúng tôi đă nói, v́ đă được tái sinh theo h́nh ảnh Chúa chúng ta, lại được Thiên Chúa nhận làm nghĩa tử, chúng ta hăy mang lấy trọn vẹn h́nh ảnh của Đấng Hoá Công nhờ nên giống Người hoàn toàn : không phải về vinh quang chỉ dành cho một ḿnh Người, nhưng về ḷng trong trắng, đơn sợ, dịu dàng, kiên nhẫn, khiêm tốn, xót thương, hoà thuận ; nhờ đó Người đă đoái thương trở nên như chúng ta và chung sống với chúng ta.

 

Xướng đáp Rm 5,18.12

X Cũng như v́ một người duy nhất đă sa ngă mà mọi người bị Thiên Chúa kết án,

* th́ nhờ một người duy nhất đă thực hiện lẽ công chính, mọi người cũng được Thiên Chúa làm cho nên công chính, nghĩa là được sống.

Đ V́ một người duy nhất, mà tội lỗi đă xâm nhập trần gian, và tội lỗi gây nên sự chết. *

 

Lời nguyện

Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, xin tạo cho chúng con một tấm ḷng trung tín và quảng đại để chúng con nhiệt thành phụng sự Chúa. Chúng con cầu xin…