Vần L

 

1.      Làm đầy tớ người khôn, hơn làm thầy người dại:  Làm thầy người dại nhiều khi mang tiếng dại lây,v́ đầy tớ ngu dại nhiều khi làm xấu cả mặt thầy mà không biết. 

Làm đầy tớ người khôn thường được thầy bênh vực, chống đỡ một cách khôn khéo, có khi ḿnh dại  mà được tiếng khôn, mà chắc chắn không bị tiếng dại lây.

2.      Làm giầu để đau uống thuốcLàm giầu là làm ăn chăm chỉ, nhịn ăn nhịn mặc, để dành tiền của cho nhiều.  Đau là ốm đau, bệnh tật.

Làm giầu để đau uống thuốc là v́ ăn nhịn để dành cho trở nên giầu, mà người hóa ốm yếu, bệnh tật.  Tưởng làm giầu để làm ǵ, không ngờ làm giầu chỉ để cho người hóa ốm mà uống thuốc. 

Câu này chê những người làm giầu quá đến nỗi coi khinh thân thể, không chú ư đến sức khoẻ của ḿnh.

3.      Làm khi lành để dành khi đauLành là lành mạnh, khoẻ mạnh.  Đau là đau ốm, yếu đau, bệnh tật.

Làm khi khoẻ mạnh để dành pḥng khi ốm đau, v́ đau th́ không làm được.  Câu này khuyên người ta nên lo xa, lúc khoẻ nên lo lúc ốm, khi có nên pḥng lúc không, khi làm được nên nghĩ đến khi không làm được.

4.      Làm nghề chài phải theo đuôi cáChài là cái chài, tức là một thứ lưới rộng dùng để đánh cá.

Làm nghề chài tức là làm nghề đánh cá.  Cả câu nghĩa là: Làm nghề chài lưới th́ phải theo đuôi con cá để bắt. Nghĩa bóng câu này muốn nói làm nghề ǵ th́ phải theo nghề ấy, nghề nào cũng có cái vinh, cái nhục của nghề.

5.      Làm phúc cũng như làm giầuLàm phúc là bỏ tiền bạc, của cải ra giúp đỡ người nghèo khổ cơ nhỡ.  Làm phúc như thế tuy có hao tổn của cải đi ít nhiều, song cũng không mất hẳn.  Chỉ như để dành một nơi mà thôi.

Bởi v́ bỏ của ra làm phúc như vậy th́ được nhiều người kính mến, chịu ơn.  Lỡ sau này ḿnh gặp cơn hoạn nạn, tai biến ǵ, cũng có người cưu mang giúp đỡ.  Và trong khi ḿnh làm phúc đă gây được bao nhiêu bạn bè, đă mua chuộc được ḷng bao nhiêu người thiên hạ.  Cho nên nói rằng làm phúc cũng lợi và cũng cần, ngang với làm giầu. 

Câu này khuyên những người có hằng sản nên có hằng tâm (có của nên có ḷng làm phúc).

6.      Làm quan có mả, kẻ cả có gịngMả là mồ mả, đất cát;  người ta tin rằng mồ mả của ông cha có ảnh hưởng đến đời sống và công danh, sự nghiệp của con cháu.  Hễ mồ mả “kết” th́ con cháu phát đạt làm nên.  Mà táng vào chỗ không tốt, th́ con cháu sa sút lụt bại.  Cho nên có câu:  Làm quan có mả nghĩa là có mồ mả, đất cát “kết phát” th́ mới làm được quan sang.

Kẻ cả là người lớn, người trên, người đứng đầu, người đàn anh.  Có gịng là có gịng dơi, tức xưa có cha ông từng làm đàn anh, th́ con cháu mới làm được đàn anh.

Đời xưa dưới chế độ phong kiến (như đời Lư, nhà Trần), con quan th́ lại làm quan, câu này rất đúng.  Bây giờ th́ không đúng nữa.  Bây giờ th́ “có chí làm quan, có gan làm giầu”, không căn cứ ǵ mồ mả hay gịng dơi.

7.      Làm ruộng ăn cơm nằm, chăn tằm ăn cơm đứngLàm ruộng th́ phải thức khuya, dậy sớm, trời mờ sáng đă phải ăn cơm để ra đồng làm.  Măi trống canh một hết việc mới được ăn cơm tối.  Cho nên nói rằng ăn cơm nằm tức là ăn cơm lúc người ta nằm ngủ, hoặc phải nằm mà ăn cơm, v́ ăn cơm sớm quá và ăn muộn quá.

Chăn tằm th́ phải luôn luôn săn sóc tằm ăn cho no đủ.  Nếu là dâu hết, tằm thiếu cái ăn, th́ đang bữa cơm cũng phải đứng dậy đi hái dâu, hoặc mải hái dâu quên cả bữa ăn.  Nên bảo rằng ăn cơm đứng tức là vừa đứng hái dâu vừa ăn cơm. 

Câu này tả nỗi khó nhọc của nghề làm ruộng và nghề chăn tằm.

8.      Làm ruộng th́ ra, làm nhà th́ tốnRa đây nghĩa là ṛi ra, đẻ ra, có lợi thêm ra.  Làm ruộng th́ được lúa gạo, rơm, rạ, đủ các thứ lợi nên bảo rằng làm ruộng th́ ra.  Trái lại làm nhà th́ tốn, v́ phải mua hết thứ này đến thứ khác, làm xong nhà đến bếp, làm xong bếp đến lát gạch sân và xây tường bao, cứ rở rói ra măi, cho nên tốn kém.

9.      Làm tài trai cứ nước hai mà nói:  Làm con trai tài giỏi, không bao giờ nên nói quả quyết điều ǵ, pḥng lúc không giữ lời hứa, hoặc lỡ lời nói sai th́ không có lối thoát.  Đại khái như nói điều ǵ cũng bảo:  H́nh như, có lẽ th́ đúng, đúng cũng được, mà không đúng cũng không sao.

10.  Lành làm gáo, vỡ làm môi:  Cái sọ dừa, nếu lành th́ người ta cưa làm gáo, nếu vỡ th́ người ta cưa làm cái môi hoặc cái muôi.  Môi hay muôi là một thứ cùi d́a h́nh tṛn to, làm bằng sọ dừa, so với cái gáo th́ môi hay muôi nông hơn nhiều, nên sọ dừa vỡ không làm gáo được mà có thể dùng làm môi.  Người ta thường dùng câu này để tỏ cái ư định liều lĩnh làm việc ǵ (nhất là việc vật lộn, tranh dành nhau), bất chấp hành hay mẻ, được hay thua.

11.  Lạt mềm buộc chặtLạt mềm là lạt chẻ mỏng.  Lạt mỏng th́ vừa dẻo, vừa dai, buộc cái ǵ buộc lằn, siết chặt mà không đứt.  Lạt chẻ dầy, th́ vừa cứng, vừa ḍn, buộc chặc không được và hay gẫy, đứt.  Câu này lấy lạt làm thí dụ, để khuyên người ta nên ăn nói mềm mỏng, ngọt ngào th́ ai nghe cũng lọt tai, do đó việc ḿnh mới hay.

12.  Lắm người nhiều điềuĐiều đây là lời nói.

Lắm người th́ mỗi người một lời thành ra nhiều lời.  Câu này ư nói hễ nhiều người th́ nhiều ư kiến.

Cũng có ư nói đám đông người thường hay lộn xộn, ồn ào v́ mỗi người nói một lời.

13.  Lắm rận th́ giầu, lắm trâu th́ nghèoLắm rận đây là nói người nghèo khó.  Người nghèo khó ít quần áo, không năng thay đổi và quần áo hay rách vá, thành ra hay có rận.  Lắm trâu tức là người giầu có.  Lắm rận th́ giầu: người nghèo khó lại giầu ḷng nhân đức, thương người.  Lắm trâu th́ nghèo: người giầu có lại nghèo ḷng nhân đức. 

Cũng có người giải nghĩa như thế này, người nghèo th́ giầu sự nghèo khó của ḿnh, cũng làm ra bộ giầu để người ta khỏi khinh.   Trái lại, người lắm trâu th́ giấu sự giầu có của ḿnh, làm ra bộ túng bấn, để người ta khỏi vay mượn.

14.  Lắm săi không ai đóng cửa chùaSăi tức là tu sĩ, đạo sĩ (sĩ đọc trạnh ra săi), nay ta hiểu là nhà sư.  Nhiều sư quá th́ người nọ chắc người kia đă đóng, thành ra cửa chùa không ai đóng.  Câu này ư nói nhiều người dự vào công cuộc ǵ, mà không có người chịu trách nhiệm, th́ việc không đi đến đâu.

15.  Lắm thầy thối ma, nhiều cha con khó lấy chồngThầy đây là thầy phù thủy, thầy pháp sư, thầy chùa (ông sư).  Ma đây là thây ma, tức xác người đă chết.  Tục cũ, nhà có người chết, thường hay mời thầy phù thủy và các ông sư đến làm đàn cúng lễ, rồi mới đem đi chôn.  Lắm thầy th́ mỗi thầy bày ra một lối cúng cấp.  Thây ma phải quàn lại lâu trong nhà, thành ra có khi thối tha, có mùi khó ngửi.  Thế là thối tha.  Nhiều cha: nào cha đẻ, nào cha nuôi, cha đỡ đầu, người con gái trước khi lấy chồng, cần sự đồng ư của nhiều người cha cho nên khó lấy chồng.  Câu này nói cái hại của sự thiếu người phụ trách; công việc do nhiều người cùng làm, mà không người khuyên trách, th́ kết quả không được đẹp đẽ.

16.  Lâu ngày cứt trâu hóa bùn:  Cứt trâu để lâu ngày nó lẫn với bùn đất, không ai c̣n nhận ra được nữa.

Người ta thường mượn câu này để nói món nợ để lâu ngày không trả, sẽ bị bỏ quên đi như không.

17.  Lấy đồng tiền làm làoLào là một thứ đồ đong nhỏ, dùng làm cái ngữ để đong lường một thứ hàng hóa ǵ.

Lấy đồng tiền làm lào là bất cứ việc ǵ cũng lấy đồng tiền làm thứ đong lường so sánh.  Đă lấy đồng tiền làm lào, th́ hễ cái ǵ rẻ là mua, cái ǵ đắt là không mua, như vậy không mua được thứ tốt.  Đă lấy đồng tiền làm lào th́ thường chỉ so đồng tiền nhiều hay ít, không kể ǵ đến điều nhân nghĩa, như vậy trong cách ăn ở chỉ vụ lợi mà thôi.

18.  Lấy vợ đàn bà, làm nhà hướng namLấy vợ th́ dĩ nhiên lấy vợ đàn bà, làm nhà th́ dĩ nhiên phải trông về hướng Nam (v́ hướng Nam th́ mát).  Cũng có người giảng thế này:  Lấy vợ th́ lấy người thật là đàn bà, làm nhà th́ nên làm trông về hướng Nam.  V́ cũng có người đàn bà mà tướng người và tính nết y như đàn ông, như thế là không tốt.

19.  Lấy vợ xem tông, lấy chồng xem giốngTông với giống cùng một nghĩa là gịng dơi.  Lấy vợ phải xem tông, lấy chồng phải xem giống, v́ con cháu thường bẩm thụ những đức tính và bệnh tật di truyền của cha ông.  Hễ cha ông là người hiền lành, th́ con cái ít khi là người hung ác;  hễ cha ông là người hung ác, th́ con cháu ít khi là người hiền lành.

Câu này khuyên người ta lấy vợ lấy chồng nên chú ư lựa chọn con nhà gịng dơi tử thế, không nên tối  mắt về của cải giầu sang hoặc nhan sắc nhất thời.

20.  Lem lém như gấu ăn trăng:  Mặt trăng bị quả đất che lấp, thành thử đang sáng hóa tối, gọi là nguyệt thực, nói nôm là gấu ăn trăng.  Ngày xưa, người ta tin rằng lúc đó có gấu nhà trời ra ngậm mặt trăng.  Gấu ăn trăng th́ mau chóng lắm, cứ lem lém từng giây, từng phút “ăn” hết cả mặt trăng.  Để tỏ sự ăn mau chóng quá sức, người ta thường ví với gấu ăn trăng.

21.  Lên mặt xuống chân:   Dáng điệu kiêu ngạo, làm bộ đi cứ vênh cái mặt lên và chân th́ bước th́nh thịch xuống đất, để người ngoài chú ư đến ḿnh.

22.  Lên voi xuống chóLúc lên th́ to như con voi, lúc xuống th́ bé như con chó.  Câu này ư nói lúc nào người ta gặp cơn vận đỏ th́ lên to lắm, lúc gặp vận đen th́ xuống lại, hóa bé lắm.  Người th́ trước sau vẫn thế, nhưng lúc to lúc nhỏ là do vận hội xui nên.  Cũng có nghĩa là hễ lên to quá, th́ lại xuống bé quá, nếu cứ trung b́nh th́ lên xuống cũng không đến nỗi chênh lệch như thế.

23.  Lo chật bụng, lo chi chật nhàChật bụng là bụng dạ chật hẹp, không rộng lượng, không có ḷng rộng răi đối với mọi người.  Chật nhà là nhà chật hẹp, không rộng răi.

Chỉ lo bụng dạ ḿnh không được rộng răi, chứ lo ǵ nhà ḿnh không được rộng răi.  Bụng dạ rộng răi th́ lắm bạn, đến chật nhà cũng hóa như rộng, v́ đông người lui tới, chơi bời với ḿnh.  Bụng chật hẹp th́ nhà rộng răi đến đâu, cũng như chật hẹp v́ chẳng ai buồn tới.

Đại ư câu này khuyên người ta ăn ở nên rộng răi với mọi người, không nên khe khắt, chặt chẽ quá.

24.  Lo ḅ trắng răng:  Lo rằng con ḅ trắng răng, không ai nhuộm răng cho nó,  tức là lo việc không đâu, vô vị và vô ích.  Nghĩa bóng là lo việc không đáng lo.  Câu này nói bỏ lửng ư ở đoạn giữa, lẽ ra phải nói cả câu: “lo ǵ mà lo, lo ḅ trắng răng, lo ông trời đổ, lo thằng trên cây”, toàn là những mối lo không đáng lo cả.

25.  Ḷng chim dạ cá:  Con chim bay trên trời, ḷng nó ai biết được?

Con cá lội ở dưới nước, dạ nó ai rơ được?

Người ḷng chim dạ cá là người ḷng dạ khó hiểu như ḷng chim dạ cá.  Người vợ ḷng chim dạ cá là người vợ mà chồng không hiểu ḷng dạ ra sao, ư nói ḷng trung thành, sự trinh tiết chưa được chắc chắn.

26.  Ḷng vả cũng như ḷng sungQuả vả to, quả sung nhỏ, nhưng đều thuộc một loại.  Trong ḷng hai quả đều giống in nhau.

Người ta thường mượn câu này để nói ḷng người ai cũng như ai, đều muốn đẹp, muốn giầu, ghét nghèo, ghét xấu, ưa việc lành, ghét việc dữ.

Ư nghĩa câu này cũng na ná ư nghĩa câu: “bụng trâu làm sao, bụng ḅ làm vậy”.

27.  Lọt sàng xuống niaSàng gạo th́ hột gạo lọt qua sàng xuống nia, đó là một việc dĩ nhiên.

Người ta thường dùng câu này để nói rằng: quyền lợi trong gia tộc phi anh th́ về em, phi về ngành trên th́ ngành dưới, quanh quẩn vẫn ở trong một nhà một họ (ví với cái nia), chứ nó có ra ngoài đâu mà sợ thiệt.

28.  Lộn con toán, bán con trâuLộn tiếng miền Nam, nghĩa là lầm lẫn, lẫn lộn.  Con toán là con tính (ngày xưa người ta tính bằng bàn toán, hay bàn tính), trong bàn tính có những quả tṛn như ḥn bi, xâu vào những que đồng, có thể đẩy lên đẩy xuống những quả ấy để tính toán.  Những quả đó gọi là con toán, tức như con số để tính.  Khi tính toán, nếu để lầm lộn một con toán, th́ có khi thiếu hụt mất hàng trăm, hàng ngàn không chừng.  Cho nên phải bán con trâu của nhà đi, để đền vào chỗ lầm lộn.  Đó là nghĩa đen câu tục ngữ. 

Nghĩa bóng câu này định nói: tính toán lầm lộn một chút là thiệt hại rất to; ư nghĩa cũng na ná như câu: Sai một ly, đi một dặm.

29.  Lời nói, đọi máuĐọi là thứ bát nhỏ.  Lời nói, đọi máu nghĩa đen là lời nói bằng một bát máu; nghĩa bóng là lời nói thành thực, thống thiết, xuất tự đáy tim ra.  H́nh như có dính hàng bát máu.

Hoặc cũng có nghĩa là: một lời nói quí báu như một đọi máu.

30.  Lợi th́ nuôi lợn nái, hại th́ nuôi bồ câuLợn (người miền Nam gọi là con heo) nái tức là lợn cái, lợn sề.  Lợn nái mỗi năm đẻ hai lứa, mỗi lứa bảy, tám, có khi đến mười con lợn con.  Lợn con nuôi ba tháng đă bán làm lợn giống được, cho nên nuôi lợn nái rất có lợi.

Bồ câu ăn thóc rất tốn.  Bồ câu lại hay ỉa trên mái nhà và vào bể nước, làm bẩn cả nước mưa, nước bể.  Nên người ta cho là nuôi bồ câu không lợi, mà có hại.

31.  Lớn người to cái ngă:  Người càng lớn th́ cái ngă càng to, v́ người lớn th́ nặng cân, ngă tất mạnh.

Theo nghĩa bóng câu này muốn nói: người làm nên danh phận cao bao nhiêu, th́ khi gặp vận xấu lại xuống thấp bấy nhiêu, người giầu có sung sướng bao nhiêu, khi sa sút lại khổ sở bấy nhiêu. 

Ư nghĩa cũng tương tự ư nghĩa câu:  “Càng cao danh vọng càng đầy gian nan”, hoặc câu: “trèo cao ngă đau”.

32.  Lụa tốt xem biên, người hiền xem tướng:  Muốn biết lụa tốt hay xấu, cứ xem ở biên, tức là ở bên mép tấm lụa th́ biết.  Hễ mép lụa mà săn mịn, đều sợi là lụa tốt.  Muốn biết người hiền hay không cứ xem mặt th́ biết, v́ khôn ngoan dồn ra nét mặt, và nhân hiền tại mạo (người hiền ở nét mặt).

Câu này nói về cách xem lụa và xem người, dạy ta những trí thức thông thường về sự vật, thuộc vào loại những câu:

Mua cá th́ phải xem mang.

Mua bầu xem cuống mới toan không lầm.

Mua cau chọn lấy buồng sai.

Mua trầu chọn lấy trăm hai lá vàng.

Cá thở bằng mang.  Cá c̣n sống th́ mang cá phập phồng, cá c̣n tươi.  Cá mới ngă (chết) th́ mang đỏ.  Bầu bí cuống nhỏ th́ đặc ruột, cuống to th́ lắm ruột, mỏng cùi, không tốt.  Trầu không lá vàng th́ ngon.

33.  Lửa cháy mà lại đổ dầu thêm:  Lửa đang cháy mà đổ thêm dầu, th́ lửa lại càng cháy to.  Đại ư câu này nói là to chuyện thêm, làm cho câu chuyện lôi thôi, rắc rối, đáng lẽ phải dẹp nó đi.

34.  Lưỡi không xương nhiều đường lắt léo:  Lưỡi không có xương, nên uốn, lắt lẻo thế nào cũng được.  Nghĩa bóng câu này thường được dùng để chê người ăn nói trước sau bất nhất, lúc nói thế này, lúc nói thế khác.

35.  Lưỡi mềm độc quá đuôi ongLưỡi mềm là lưỡi không cứng rắn như đá, không sắc nhọn như dao, lư ưng không có ǵ đáng sợ, v́ không làm đau đớn, thương tổn được người ta.  Ấy vậy mà lưỡi độc quá đuôi ong, tức là độc hơn nọc ong (nọc ong ở đằng đuôi).  Đuôi ong châm vào th́ thịt đau buốt và sưng vù lên.  Lưỡi nói xấu ai th́ người ấy mất bạn bè, mất danh giá.  Lưỡi vu khống ai th́ người ấy bị tù tội, mất cơ nghiệp, có thể mất cả tính mạng.

Câu tục ngữ nêu ảnh hưởng tai hại của miệng lưỡi con người, và ngụ ư khuyên người ta không nên nói vu oan, nói xấu kẻ khác.

36.  Lươn ngắn chê chạch dàiLươn với chạch là hai giống cá thân h́nh coi gần như nhau, nhưng chạch th́ ngắn hơn lươn nhiều.  Vậy mà lươn lại tự cho là ḿnh ngắn mà chê chạch là dài, trái hẳn với sự thật.

Người ta thường mượn câu này để nói người có lỗi lại chê người khác làm lỗi.  Người bụng dạ không tốt lại chê người khác không tốt.  Đại ư câu này khuyên người ta nên xét ḿnh trước rồi hăy xét người.