XỨ (LÀNG) XUÂN HÀ, GIÁO PHẬN BÙI CHU

 

 

 

 Xuân hà quê tôi:
             (tham khảo Đặc san Bùi chu 1989, kỉ niệm 141 năm thành lập giáo phận Bùi chu, trang 151 và Lịch sử Giáo phận Bùi chu in năm 2000 trang 363-364)

 

Vị trí Xuân hà:

Làng Xuân hà, cái tên nghe cũng dễ thương, có lẽ nó mang ư nghĩa là con sông mùa xuân tươi mát.  Không rơ cao ư của các bậc tiền bối đặt tên như thế khi lập ra làng này. (Theo bản Gia phả họ Đoàn th́ tổ tiên của họ này đă từ làng Hà lạn ra lập làng này trên miền đất mới bồi:

"Theo ư kiến một số bậc tiền bối trong họ, cụ Tổ Đoàn Như Bích , nguồn gốc sinh sống tại làng Hà Lạn, Tổng Tân Khai, Huyện Hải Hậu, Tỉnh Nam Định. Thời đó, Cụ làm việc hương chính, Cụ có công khai phá lập ra làng Hà lạn. Về sau v́ sự phát triển, cụ lập thêm làng Xuân Hà cũng thuộc Tổng Huyện như trên dưới thời Vua Tự Đức năm thứ 36 (năm 1883 năm Âm lịch Quí Mùi").

 

Xuân hà theo h́nh thể địa dư: phía đông giáp biển Đông nước Việt, phía tây giáp cánh đồng thôn Roanh châu, phía bắc khá xa giáp làng Quất lâm hạ và làng Hà lạn, phía nam giáp làng Xương điền, bây giờ đă bị biển xoi ṃn.

Đất làng không rộng lắm, một phần đất làm nhà ở, phần c̣n lại làm ruộng phơi muối.

 

 Xứ đạo Xuân hà:

Xuân hà trước năm 1954, là một làng hoàn toàn Công giáo, chỉ lạc vào một gia đ́nh bên lương trong tổng số mấy trăm gia đ́nh.

Theo cuốn "Lịch sử địa phận Bùi chu do hội Ái hữu Bùi chu in năm 2000" trang 363, xứ Xuân hà  trước là họ lẻ của Xứ Xương điền. Xuân hà được tách ra thành xứ riêng năm 1911.

Quan thầy xứ là thánh nữ Catarina. Nhà thờ xứ xây năm 1911, tháp chuông xây năm 1932. Diện tích khu vực nhà thờ, nhà xứ là 17.700 mét vuông.

Giáo dân toàn xứ (nhà xứ, 5 họ lẻ) năm 1939 có 1752 người, năm 1995 có 2018 người.

c họ lẻ:

1/ Họ Thánh Gioakim, nhà thờ xây năm 1880, tái thiết năm 1928, di chuyển v́ biển lở năm 2000, giáo dân năm 1993 có 235 người.

2/ Họ Thánh gia, lập năm 1933, nhà thờ xây năm 1933, sửa chữa năm 1958, diện tích 4.350 mét vuông, giáo dân năm 1993: 220 người.

3/ Họ Thánh Giuse, nhà thờ xây năm 1934, (được sửa lại tường và mái, bên trong nhà thờ năm 2003-2005), tháp chuông, nhà hội quán xây năm 1935, khu vực nhà thờ 16.480 mét vuông. Giáo dân năm 1993: 635 người.

Họ ông thánh Giuse được coi như khá giả hơn, v́ là con cháu cụ Tổ Bích lập làng, có những vị được gọi là ông tổng, ông bá, ông lư, ông chánh, ông trùm. Gia đ́nh nào cũng có nhà trên, nhà dưới, bếp nấu ăn, chung quanh khu đất có hàng rào tre xanh bao bọc, có ao trước, ao sau, có cổng sát đường dẫn vào ngơ chính, vườn rau, sân trước nhà tráng vôi để kéo lúa...Nhiều gia đ́nh khác trong làng cũng xây cất tương tự như trên.

V́ là gia đ́nh tương đối khá, tiện đường đi lại, nên các linh mục khi về Xuân hà thường vào thăm cụ cố Cửu. Thấy gia đ́nh có nhiều con trai, nên các cha đă kêu gọi đi tu theo các ngài. Trong số 5 anh em đi tu, có 2 tới chức linh mục:  (Giuse Đoàn Ngọc San, và Giuse Đoàn Huy Hùng). Gia đ́nh người con cả cụ cố Cửu cũng được 2 linh mục (Giuse Đoàn Quang Báu và Giuse Đoàn Đ́nh Bảng).

4/ Họ Thánh Tâm, lập năm 1940, nhà thờ xây năm 1943, năm sau bị băo tàn phá, hiện nay phải làm lễ tại hội quán xây năm 1946, giáo dân 1993: 125 người.

            Nhà thờ xứ và và các họ lẻ đều rất lớn, mái ngói, cột gỗ cao, trên cung thánh là các ṭa gỗ chạm trổ, sơn son thiếp vàng rất đẹp. Các tượng Chúa, Đức Mẹ tại bàn thờ chính có mặt và tay làm bằng ngà voi coi rất đẹp.

 

Các linh mục coi xứ Xuân hà:

(theo Lịch sử ĐPBC 2000 tr 363: Các cha Dụ, Tú, Nghĩa, Thống, Trụ, Cư, Định, Huyên, Cẩm, Nhă (1954), San (1955), Huyên (1972), Hiệp, Phạm Văn Phương, Gioan Đinh Như Lạng, và Giuse Nguyễn Đức Dung).

Theo chỗ chúng tôi biết:

- Cha Phaolô Tạ Quang Khải đă coi Xuân hà trước cha Dụ, v́ có chứng nhận trong chứng chỉ Rửa tội.

- Cha Trần Ngọc Cư (gia đ́nh cha có 3 linh mục: Trần Ngọc Hưởng Trần Ngọc Cư và Trần Ngọc Hương). Khi cha Cư qua đời, đám táng ngài được tổ chức rất trọng, dân chúng rước xác ngài trên đường đê quanh nửa làng, rồi đem về an táng bên cạnh nhà thờ xứ.

Người ta nói nhiều về câu chuyện cha Cư hiện về nói như tiếng gió, báo tin cho cha Huyên, người kế vị, biết tiền của văn tự đất đai nhà thờ cất giữ ở đâu, để cha Huyên lấy mà trả công nợ người ta.

- Cha Đaminh Vũ Xuân Huyên sau mấy năm, được đổi về xứ Cồn tṛn,  cha Đaminh Mai Văn Cẩm về thay một thời gian.

Sau khi cha Cẩm đi, xứ này không c̣n cha thường trực.

            Năm 1954, hiệp định Geneve chia cắt Việt nam thành 2 miền: bắc thuộc Việt cộng, nam thuộc quốc gia, Xuân hà bị lọt vào tay Cộng sản, người ta t́m cách ra đi Hà nội, Hải pḥng để xuôi nam, nhưng Việt cộng đem quân về đóng tại làng, tại nhiều nhà dân, cầm chân họ không cho ra tàu Pháp đậu ngoài khơi chở người, cũng không cho đi đường bộ. Một vài gia đ́nh phải t́m cách đi đường biển ra thẳng Hải pḥng trong chiếc thuyền nhỏ mong manh nguy hiểm.

            Trong thời gian này, theo cuốn Lịch sử BC trên cho biết có các linh mục sau đây về Xuân hà phục vụ: Nhă (1954), San (1955), Huyên (1972), Hiệp, Phạm Văn Phương, Đinh Như Lạng.

- Cha Giuse Nguyễn Đức Dung, chánh xứ Liên phú kiêm nhiệm coi Xuân hà không rơ từ năm nào tới tháng 2/2006.

- Từ 2/06 Đức cha Hoàng Văn Tiệm cử cha Phaolô Trần Đức Nhuận về  coi xứ Xuân Hà, tới 9/2006 (7 tháng) th́ qua đời. Từ 25/7/07 đức cha lại cử linh mục  Trần Huỳnh Công con cha cố Nhuận về nối tiếp.

 

Kinh tế Xuân hà:

Người dân làng Xuân hà đa số làm muối và một số người đánh cá biển như một nghề phụ. Đời sống rất cực khổ, nghèo khó.

Có lần Ông cố Cửu nói với các con: "Sau này các con phải t́m nơi mà ăn học sinh sống, ở làng măi, không khá lên được".

Xin tả qua việc làm muối và đánh cá:

        Làm muối:  Muối đây là hợp chất bởi: Nước mặn qua sức nóng mặt trời bốc hơi thành muối trắng tinh.

    Làm nghề này rất vất vả, và hoàn toàn lệ thuộc vào thời tiết, cần những ngày nắng thật gắt, nắng như đổ lửa càng tốt. Đêm xuống rồi mà người vẫn phải liếc nh́n bầu trời, để tiên đoán cho công việc ngày mai. Người ta nói thật đúng:

Trông trời trông đất trông mây,

Trông mưa trông nắng trông ngày trông đêm,

Trông cho chân cứng đá mềm,

Trời yên biển lặng mới yên tấm ḷng.

Ngày nào đă phơi cát phơi nước rồi mà trời bỗng đổ mưa th́ kể như "công dă tràng" (dă tràng xe cát bể Đông, nhọc ḿnh mà chẳng nên công nỗi ǵ!).

Thế nên người làm muối phải biết thời tiết.

Thâm đông hồng tây dựng may,

ai ơi đợi đến 3 ngày hăy đi,

v́ chắc chắn sẽ có mưa băo, đừng phơi cát phơi nước muối kẻo chạy không kịp.

            Ban sáng, khi trời c̣n mát, người ta cùng nhau ra ruộng phơi cát và nước mặn:

            Phơi cát, tức là rắc cát trên sân đất thấp để cho cát ngấm nước mặn, nắng sẽ làm cho cát hút nước mặn vào. Phơi cát xong, người ta phơi nước mặn có từ hôm trước, trên những sân đă chia từng ô, tráng vôi, vôi này lấy từ đá vôi nung thật nóng mà thành (không có cement như sau này), để nhờ ánh nắng mặt trời bốc hơi, phần c̣n lại là muối thật sạch và thật mặn.

            Sau khi phơi cát và nước mặn xong, người ta về nhà nghỉ ngơi và dùng bữa trưa.

            Quăng 3 giờ, lúc trời nắng chang chang, người ta lại kéo nhau ra ruộng để thu những hạt  cát đă ngấm nước mặn, đổ nước trên cát này, chắt lấy nước mặn dành phơi nắng hôm sau. Thu cát rồi thu muối, người ta dùng nạo sắt, cạo những hạt muối trắng tinh trên những sân nề, đó là kết quả nhờ Trời cho nắng đẹp và lao công của con người.

Coi đống muối để trên xe đan bằng sợi tre, ḷng người vui tươi mừng rỡ, nhưng không bán được ngay, v́ đâu có ai mua từng ngày, phải chờ tới cuối năm mới có người buôn ở nơi khác tới mua, lúc ấy người ta mới có chút tiền c̣m. Như vậy người ta phải đem muối cất vào đâu đó. Thời Pháp thuộc, Sở Công quản do người Pháp chỉ huy, đặt nhiều đồn Công quản tại các làng làm muối, để độc quyền thu mua tất cả số muối do dân chúng làm ra. Người của họ ngồi trên cḥi canh, ai giấu đi một nắm muối mà họ bắt được cũng bị đánh đập khổ sở! Muối ḿnh làm ra mà không được ăn! Muối phải chở vào những nhà kho to lớn của họ.

            Sự quan trọng của muối th́ ai cũng biết: Muối để ướp cá, ướp tôm…cho khỏi hư thối, để dùng về sau, và để làm cho thức ăn thêm hương vị:

Cá không ăn muối cá ươn,

Con căi cha mẹ trăm đường con hư.

Thời nay, bên nước ngoài có lẽ câu đó phải đổi lại một chút:

Cá không ướp đá cá ươn,

con căi cha mẹ chưa chắc trăm đường đă hư!

Cái đó nói về kiến thức. Thời nay, con cái được học hỏi những điều văn minh hơn cha mẹ thời xưa.

Nhưng nói về ḷng tôn kính th́ thời xưa hay nay, con cái cũng không bao giờ được "căi cha mẹ", nếu có điều ǵ cha mẹ không đúng, con cái cứ từ tốn tŕnh bày cho cha mẹ biết. Thế mới đẹp t́nh cha con.

             Đánh cá biển: Một số  ít đàn ông trong làng làm thêm việc đánh cá biển. Đây không phải là một nghề làm quanh năm, nhưng chỉ là làm thêm vào mùa "trời yên biển lặng", kiếm thêm chút tiền và thực phẩm cho cái quĩ nghèo của gia đ́nh.

Đánh cá ở đây làm theo kiểu cổ truyền. Cả làng có chừng 3 hội "giùng", mỗi hội cần 2 gia đ́nh khá giả, đóng hai chiếc thuyền lớn, mỗi thuyền có thể chứa mấy chục tấm lưới kết lại với nhau, và kết với những đoạn giây thừng dài do 10 hay 12 hội viên đóng góp. Khi sắp tới mùa đánh cá, người ta vá lưới rách do mùa trước c̣n lại hoặc thay lưới mới đan, và kết thừng rất nhộn nhịp, ăn uống vui vẻ. Lưới và thừng xếp  ở khoang giữa thuyền.  

Nh́n trời, người ta biết ngày nào đi đánh cá được, họ sẽ gọi nhau. Sáng sớm, 2 chiếc thuyền cùng chèo ra khơi cách xa bờ chừng mấy trăm thước , tùy theo chiều dài của những tấm lưới và dây thừng kết lại. Ra tới khơi, hai thuyền kết lưới với nhau lại, bỏ lưới và giây thừng xuống biển, rồi mỗi thuyền một hướng đối nhau, cùng chèo vào bờ, người chèo, người thả thêm lưới và giây. Vào sát bờ, tới chỗ nước cạn, người ta nhảy xuống khỏi thuyền rồi kéo dây, kéo lưới vào cho tới tấm lưới cuối cùng. Những con cá, tôm, cua, mực… nằm trong lưới, không biết chạy ra lối nào sẽ bị "tóm cổ" hết. Cá vừa thu hoạch được sẽ chia đều cho nhau liền. Thế là qua một buổi sáng. Người nhà đem cơm thanh đạm ra cho các ông ăn trưa. Cơm xong, các ông chuẩn bị một hay hai mẻ lưới buổi chiều, nếu biển c̣n êm ả. Buổi tối người trong gia đ́nh ra đem cá về ăn ngay, hay muối cá để dành cho những ngày sau, hoặc đem bán ở chợ làng lấy tiền mua vật dụng cần thiết khác.

 

Ḷng đạo Xuân hà:

Cuộc sống của làng này cứ đều đều êm ả trôi qua như ḍng sông Xuân hà lững lờ trong thinh lặng. Người dân, ban sáng đi lễ, ra đồng làm việc, trưa về ăn cơm thanh đạm, chiều ra ruộng thu muối, tối về ăn cơm, đi nhà thờ đọc kinh chung, rồi về đi ngủ. Chỉ cầu cho "hằng ngày dùng đủ". Hôm nay cũng như hôm qua, ngày mai cũng như ngày mốt. Chúa nhật, mùa Vọng, mùa Chay, tháng Thánh Giuse, tháng Đức Mẹ…không bỏ sót mục nào. Không có văn minh đô thị, nhưng cứ sống tốt lành như vậy, khi chết hi vọng sẽ lên thiên đàng hết. Cảm ơn các linh mục đă coi sóc dân làng này...

            Năm 1954, năm mà hiệp định Geneve chia đôi nước Việt, nhiều người bỏ làng di cư vào miền Nam sống dưới chế độ Việt nam Cộng ḥa do Ông Ngô Đ́nh Diệm lănh đạo, những người c̣n ở lại tiếp tục vất vả, sống khó nghèo. Măi khi qua Mỹ năm 1975, tới gần năm 2000, chúng tôi mới được tin về quê làng cũ, nhờ những cuốn video do bà Nguyễn Thị Phin (Tước) về thăm quê bà ở xứ Văn lư, lên thăm Xuân hà...

(ĐQB)