Nguyên tắc ngừa thai theo Thông điệp Sự Sống Con người (Humanae Vitae) của Đức Giáo hoàng Phaolô 6 ban hành ngày 25 tháng 7 năm 1968)

 Số 14.

"Không thể nào chấp nhận - lư do v́ việc đó bất hợp pháp - việc điều ḥa sinh sản bằng cách trực tiếp ngăn chặn sự diễn biến đă khởi sự một mầm sống, và nhất là việc cố ư phá thai dù với lư do y tế cũng vậy.

(Nghĩa là Không được trực tiếp ngăn chặn mầm sống, cố ư phá thai, dù với lư do y tế/ hiểu là giết người vô tội từ trong ḷng mẹ tới khi vào ḷng đất (from the womb to the tomb)

 

"Ngoài ra, như giáo quyền đă nhiều lần tuyên bố, chúng ta không thể chấp nhận việc trực tiếp vô hiệu hóa khả năng sinh sản nơi người đàn ông hay đàn bà, dù là vĩnh viễn hay chỉ tạm thời trong một thời gian.

(Nghĩa là Không được "trực tiếp vô hiệu khả năng sinh sản" nơi chồng hay vợ/ hiểu là chồng cắt ống dẫn tinh, vợ buộc buồng trứng)

 

"Chúng ta cũng không có quyền chấp nhận bất cứ một hành vi nào có mục đích hay dùng làm phương tiện để ngăn chặn việc sinh sản, hoặc trước khi hoặc đang khi làm hành vi hôn nhân, hoặc làm trở ngại việc diễn tiếp tự nhiên của hành vi ấy.

(Nghĩa là Không được ngăn chặn việc thụ thai "trước, đang, sau" khi giao hợp vợ chồng/ hiểu là bao cao xu, màng chắn cửa tử cung, ṿng xoắn, giao hợp ngưng ngang)

 

---

Số 15. 

"Giáo hội không hề coi là trái phép việc sử dụng những phương tiện y khoa, y dược xét ra thực cần thiết để chữa các chứng bệnh của cơ thể, mặc dầu người ta đoán trước rằng việc sử dụng ấy sẽ cản trở sinh sản, miễn là việc cản trở ấy không phải do chính đương sự trực tiếp ưng muốn.

(Nghĩa là Được phép mổ xẻ, uống thuốc chữa bệnh cho người mẹ, dù gián tiếp làm hư thai con, do bác sĩ cần chữa, không do mẹ muốn phá thai)

 

 Số 16. 

"...Giáo hội khẳng định rằng: phải tôn trọng nền trật tự được Thiên Chúa thiết lập. V́ thế, nếu có những hoàn cảnh, những lư do thể lư, tâm lư, hoặc ngoại cảnh đ̣i hỏi vợ chồng phải hạn chế bớt việc sinh con, trong trường hợp đó, Giáo hội cho biết có thể căn cứ vào các chu kỳ tự nhiên, cố hữu của cơ năng sinh sản để làm hành vi hôn nhân trong những thời gian không đậu thai, và chỉ có phương pháp điều tiết sinh sản ấy mới không đi ngược lại những nguyên tắc luân lư căn bản".

(Nghĩa là vợ chồng giao hợp hay không, vào những ngày không đậu thai. Phương pháp coi chất nhờn dưới đây là một:  

Phương Pháp Coi Chất Nhờn (Ovulation method or Billings method)

Bác sĩ  John Billings người Úc (1918-2007- Melbourne, Australia) đă cùng với vợ (bác sĩ Evelyn Billings), cả 2 là Công giáo tốt lành đă t́m ra sự liên hệ giữa lúc trứng rụng và sự thay đổi của chất nhờn tiết ra mỗi chu kỳ kinh nguyệt, mà khai sáng ra  phương pháp Billings được Giáo hội chấp nhận và khen thưởng.

Phương Pháp Coi Chất Nhờn (Billings' Ovulation Method):

 

*Theo Phương-Pháp này, người phụ nữ khám "cửa ḿnh" hằng ngày, để thấy âm đạo khô hay ướt, có chất nhờn hay không. Chất nhờn nhăo như ḷng trắng trứng, những ngày mới ra th́ lỏng rồi cứ đặc dần. Ngày (14) đặc sệt, chính là ngày trứng rụng. Thụ thai hay tránh thụ thai , người ta căn cứ vào ngày này.

 (Chu kỳ kinh nguyệt đều hay không , thường có 28 ngày theo các giai đoạn sau:- bắt đầu ra kinh (khoảng 5 ngày),- khô ráo (khoảng 3 ngày),- bắt đầu chất nhờn (khoảng 5 ngày),- ngày 14 tột đỉnh, -khô trở lại (khoảng 12 ngày).

---

*Các bà có gia đ́nh theo kinh nghiệm cá nhân cho biết: Dù kinh kỳ đều hay không đều, cứ quan sát chất nhờn là tiện: Nếu không muốn thụ thai, nên kiêng "việc vợ chồng" vào ngày có chất nhờn. Ngược lại, những cặp vợ chồng khó có con có thể lựa gần ngày tột đỉnh nhất của chất nhờn để cho thụ thai.

 

    *Tiện và chắc hơn, người vợ cần biết ḿnh và nhắc nhớ cho chồng theo mẹo vặt này: "Ngày  ướt miễn vô - Ngày  khô tùy ư"Người chồng cũng phải tự tiết chế.

 

    *Ngày nay Phương Pháp đơn giản và chính xác giúp người phụ nữ có thể  biết  "ngày trứng rụng" cách dễ dàng nhờ dùng "thuốc thử", tự thử  cho ḿnh. Ở Pharmacy  nào cũng có bán  loại thuốc thử này. Cách thử  rất  đơn-giản và sẽ được người bán chỉ dẫn.