218. Catholic and Christian

Hỏi: Xin cha giải thích giùm con sự khác nhau giữa Catholic va Christian.

Roman Catholics are Christian? Nếu gọi chung chung những người theo Thiên Chúa giáo là Christian th́ đúng, nhưng để xác nhận ḿnh là người Công giáo th́ ḿnh phải nói là “I’m Catholic”, chứ không thể “I’m Christian”, có đúng không?

Tui ban con o day no “cai nhau” ve vu nay, no noi la Catholic la Christian, nhung con thay la Christian noi ve nhung nguoi Tin Lanh, Chinh Thong Giao, Anh Giao,v.v. con có giải thich cho tui no biet mot it su khac nhau giua Catholic va Christian, chang han nhu CG tin Đức Mẹ dong trinh va tin cac thanh thong cong, trong khi Christian thi khong. Nhung chuyen lien quan den ton giao va chinh tri con rat ngai noi, vi se co nguoi khong cung quan diem voi minh, nhung tui no cu khang khang, lam con cũng…..ngứa miệng.

 

Hi Nancy,
*Về cách xưng hô:

1-Nhieu nguoi nhan minh la catholic, nhung cung co nhieu nhóm catholic...vd nhóm Old Catholic...Old Roman Catholic...Liberal Catholic...

Để rơ ràng, chúng ta là Roman Catholic, có -pope Benedict 16 (from St. Peter the first Pope until now 266 popes), -có 7 Bí tích, -có Đức Mẹ Maria, -có các linh mục sống độc thân.
2-Gọi chung là Christians (những người tin theo Chúa Kito) gồm: (1Roman Catholic (duy nhất), 2Oxthodos (nhiều nhánh khác nhau), 3Protestant (cả trăm phái khác nhau), 4Anglican (đang trở về hợp nhất với RCatholic)).
-Con không nói: I am a Christian, nhưng tốt hơn nên nói: I am a Roman Catholic, my Pope is Benedict 16.
- Không nên ngứa miệng, v́ dù họ thua lư, họ cũng không phục ḿnh, không theo ḿnh.
Nên nhớ câu tục ngữ" Không ăn thua đủ" that's mean: Don't argue with anyone, especially about religion or politic///.
 

 

Trả lời: như đă giải thích trong bài trước, cả ba Nhánh Kitô Giáo trên đây, từ đầu,  đều thuộc Đạo Thánh của Chúa Kitô gọi chung là KitôGiáo (Christianity). Nhưng theo ḍng thời gian,  đă có những biến cố gây ra t́nh trạng rạn nứt hay ly giáo (schisms) hoặc những cải  cách (reformations) đáng tiếc xảy ra  khiến KitôGiáo bị phân chia thành 3 Nhánh chính trên đây. Ngoài ra, c̣n một nhánh Kitô Giáo nữa là Anh Giáo ( Anglican Communion) do vua Henri VIII (1491-1547) của nước Anh chủ xướng năm 1534 để lập một Giáo Hội riêng cho Nước Anh, tách khỏi Rôma chỉ v́ Ṭa Thánh La Mă ( Đức Giáo Hoàng Clement VII) không chấp nhận cho nhà vua ly di để lấy vợ khác.

Cho đến nay, các nhóm ly khai trên vẫn chưa hiệp thông được với Giáo Hội Công Giáo v́ c̣n nhiều trở ngại chưa vượt qua được.. Nguyên nhân th́ có nhiều, nhưng giới hạn trong câu hỏi được đặt ra, tôi chỉ xin nên sau đây những dị biệt căn bản giữa ba Nhánh Kitô Gíáo lớn trên đây mà thôi.

 

  I-Chính Thống  (orthodoxy) khác biệt với Công Gíáo La Mă ( Roman Catholicism) ra sao?

 

Trước hết, danh xưng Chính Thống "Orthodoxy", theo ngữ căn (etymology) Hy lạp " orthos doxa", có nghĩa là  "ca ngợi đúng (right-praise), "tin tưởng đúng " ( right belief) . Danh xưng này được dùng trước tiên để chỉ lập trường của các giáo đoàn đă tham dự các Công Đồng đại kết (Ecumenical Councils) Nicêa I (325) Ephêsô (431) và nhất là Chalcedon (451) trong đó họ đă đồng thanh chấp thuận và đề cao những giáo lư được coi là chân chính( sound doctrines) , tinh tuyền của KitôGíáo để chống lại những ǵ bị coi là tà thuyết hay lạc giáo (heresy).Do đó,trong bối cảnh này, từ ngữ "orthodoxy" được dùng để đối nghịch với từ ngữ " heresy" có nghĩa là tà thuyết hay lạc giáo. Nhưng  sau biến cố năm 1054 khi hai Giáo Hội  Kitô Giáo Hy Lạp ở Constantinople( tượng trưng cho Đông Phương) và Giáo Hội Công Giáo LaMă ( Tây Phương) đă xung đột và ra vạ tuyệt thông cho nhau ( anthemas=excommunications) ngày 16 tháng 7 năm 1054  giữa Michael Cerularius, Thượng Phụ Constantinople và Đức cố Giáo hoàng Leo IX v́ có những bất đồng lớn về tín lư, thần học  và quyền bính, th́  danh xưng "Chính Thống" ( orthodoxy) lại được dùng để chỉ Giáo Hội Hy Lạp ở Constantinople đă ly khai không c̣n hiệp thông với Giáo Hội Công Giáo La Mă. Sau này, Giáo Hội "Chính Thống" Hy Lạp ở Constantinople đă lan ra các quốc gia trong vùng như Thổ nhĩ Kỳ, Nga, Albania, Estonia, Cyprus, Finland, Latvia,  Lithuania,  Rumania, Bulgaria, Serbia, Ukraine...V́ thế,  ở mỗi quốc gia này cũng có Giáo Hội Chính Thống nhưng độc lập với nhau về mọi phương diện.Nghĩa là không có ai là  người lănh đạo chung của các Giáo Hội này, mặc dù họ có tên gọi chung là các Giáo Hội Chính Thống Đông Phương ( Eastern Orthodox Churches) tách khỏi khỏi Giáo Hội Công Giáo La Mă.(Tây Phương)

Tuy nhiên, hiện nay Thượng Phụ ( Patriarch) Giáo Hội Chính Thống Thổ Nhĩ Kỳ ở Istanbul  được coi là Thượng Phụ Đại Kết ( Ecumenical Patriarch) của các Giáo Hội Chính thông Đông Phương.Cách nay 2 năm Đức Thánh Cha Bê-nê-đich tô 16 đă sang thăm Đức Thượng phụ Giáo Chủ Chính Thống Thổ để tỏ thiện chí muốn đối thoại, đưa đến hiệp thông giữa hai Giáo Hội anh  em. Riêng Giáo Hội Chính Thống Nga, cho đến nay, vẫn chưa tỏ thiện chí muốn xích gần lại với Giáo Hội Công Giáo La Mă, v́ họ cho rằng Công Giáo muốn "lôi kéo" tín đồ Chính Thống vào Công Giáo sau khi chế độ cộng sản ở Nga tan ră, tạo điều kiện thuận lợi cho Giáo Hội Chính Thông Nga hành Đạo.

Trước khi xẩy ra cuộc ly giáo năm 1054, hai Nhánh Kitô giáo lớn ở Đông và Tây phương( The Greek Church and the Holy See=Rome)  nói trên vẫn hiệp thông trọn vẹn với nhau về mọi phương diện v́ cả hai Giáo Hội anh  em  này đều là kết quả truyền giáo ban đầu của các Thánh Tông Đồ Phêrô và Anrê. Lịch sử truyền giáo cho biết là Thánh Phêrô đă rao giảng Tin mừng ở vùng  đất nay là lănh địa của Giáo Hội Công Giáo La Mă (Roma) trong em ngài, Thánh Anrê (Andrew)  sang phía Đông để rao giảng trước hết ở Hy lạp và sau đó trong phần đất nay là Thổ Nhĩ Kỳ (Turkey). Như thế, cả hai Giáo Hội KitôGiáo Đông Phương Constantinople và Tây Phương Rôma đều có nguồn gốc Tông đồ thuần túy ( Apostolic succession).

Sau đây là những điểm gây bất đồng khiến đi đến ly giáo (schism) Đông Tây

 

 1- về tín lư, Giáo Hội Chính Thống Đông Phương- tiêu biểu ban đầu là  Giáo Hội Hy Lạp ở Constantinople-  bất đồng với Giáo Hội Công Giáo La Mă về từ ngữ “ Filioque” ( và Con) thêm vào trong Kinh Tin Kính Nicêa tuyên xưng “Chúa Thánh Thần bởi  Chúa Cha, và Chúa Con mà ra”.

Giáo Hội Chính Thông Đông Phương cũng không công nhận các tín điều về  Đức Mẹ  Vô Nhiễm  Thai (Immaculate Conception) và Lên Trời cả hồn xác (Assumption) mặc dù họ vẫn tôn kính Đức Mẹ là Mẹ Thiên Chúa (Theotokos). Sở dĩ thế, v́ họ không công nhận vai tṛ lănh đạo Giáo Hội của Đức Giáo Hoàng, nên đă bác bỏ mọi tín điều được các Đức Giáo Hoàng công bố  với ơn bất khả ngộ (Infallibility) mà Công Đồng Vaticanô I (1870) đă nh́n nhận.

Chính v́ họ không công nhận quyền và vai tṛ lănh đạo Giáo Hội hoàn vũ của Đức Giáo Hoàng Rôma, nên đây là trở ngại lớn nhất cho sự hiệp nhất (unity) giữa hai Giáo Hội Chính Thống và Công Giáo cho đến nay, mặc dù hai bên đă tha vạ tuyệt thông cho nhau sau cuộc gặp gỡ lịch sử giữa Đức Thánh Cha Phaolô VI và Đức Thượng Phụ Giáo Chủ Constantinople là Athenagoras I năm 1966.

Giáo Hội Chính Thống có đủ bảy bí tích hữu hiệu như Công Giáo. Tuy nhiên, với bí tích rửa tội  th́ họ  dùng  nghi thức d́m xuống nước (immersion) 3 lần để nhấn mạnh ư nghĩa tái sinh vào đời sống mới, trong khi Giáo Hội Công Giáo chỉ dùng nước đổ trên đầu hay trán của người được rửa tội để vừa chỉ sự tẩy sạch tội nguyên tổ và các tội cá nhân ( đối với người tân ṭng) và tái sinh vào sự sống mới, mặc lấy Chúa Kitô.

 

2-Về phụng vụ, Giáo Hội Chính Thống dùng bánh có men (leavened bread) và ngôn ngữ Hy lạp  khi cử hành phung vụ  trong khi Giáo Hội Công Giáo dùng bánh không men (unleavened bread) và tiếng Latinh trong phụng vụ thánh trước Công Đồng Vaticanô II, và nay là các ngôn ngữ của mọi tín hữu.

 

3-Sau hết, về mặt kỷ luật giáo sĩ:  Giáo Hội Chính Thông cho phép các phó tế và linh muc được kết hôn trừ Giám mục, trong khi kỷ luật độc thân (celibacy) lại  được áp dụng cho mọi cấp bậc trong hàng giáo sĩ và tu sĩ Công Giáo, trừ phó tế vĩnh viễn (pernanent deacons).

Đó là những khác biệt căn bản giữa Giáo Hội Chính Thống Đông Phương và Giáo Hội Công Giáo La Mă.

Tuy nhiên, dù có những khác biệt và khó khăn trên đây, Giáo hội Công Giáo và Giáo Hội Chính Thống Đông Phương đều rất gần nhau về nguồn gốc tông đồ và về nền tảng đức tin, giáo lư, bí tích và Kinh thánh. V́ thế,  giáo lư của Giáo Hội Công Giáo đă dạy rằng: “Đối với các Giáo Hội Chính thống, sự hiêp thông này sâu xa đến nỗi “chỉ c̣n thiếu một chút là đạt được mức đầy đủ để có thể cho phép cử hành chung phép Thánh Thể của Chúa Kitô” (x.SGLGHCG, số 838).

 

II- Tin lành ( Protestantism) và những khác biệt với Công Giáo.

 

Như đă nói trong bài trước, Tin lành, nói chung, là Nhánh KitôGíao đă tách ra khỏi Giáo Hội Công Giáo sau những cuộc cải cách tôn giáo do Martin Luther, một linh mục Ḍng thánh Augustinô, chủ xướng vào năm 1517 tại Đức và lan sang Pháp với John Calvin và Thụy sỹ với Ulrich Zwingli  và các nước Bắc Âu sau đó.

 

 

Điểm căn bản trong nền thần học của Tin Lành là con người đă bị tội tổ tông phá hủy mọi khả năng hành thiện rồi (làm việc lành), nên mọi nỗ lực cá nhân để được cứu rỗi đều vô ích và vô giá trị. Chỉ cần tuyên xưng đức tin vào Chúa Kitô dựa trên Kinh Thánh là được cứu rỗi mà thôi. (Sola fide, sola scriptura). Ngược lại, Giáo Hội Công Giáo tin rằng con người vẫn có trách nhiệm cộng tác với ơn Chúa để được cứu rỗi. Nói khác đi, muốn được cứu độ, con người phải cậy nhờ trước hết vào ḷng thương xót vô biên của Thiên Chúa và công nghiệp cứu chuộc vô giá của Chúa Kitô, nhưng cũng phải có thiện chí công tác với ơn thánh để sống và thực thi những cam kết khi được rửa tội. Nếu không, Chúa không thể cứu ai được như Chúa Giêsu đă nói rơ: “không phải bất cứ ai thưa với Thầy: lạy Chúa, lạy Chúa là được vào Nước Trời cả đâu! Nhưng chỉ có ai thi hành ư muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời, mới được vào mà thôi.” (Mt 7:21).

 

 chỉ trích Giáo Hội Công giáo là ‘lạc giáo=heretical” v́ đă cho gọi Linh mục là “ Cha” (Father, Père, Padre)!.

Thật ra, Giáo Hội cho phép gọi như vậy, v́ căn cứ vào giáo lư của Thánh Phaolô, và dựa vào giáo lư này,  Công Đồng Vaticanô II trong Hiến Chế Tín lư Lumen Gentium đă dạy rằng; “ Linh mục phải chăm sóc giáo dân như những người cha trong Chúa Kitô  v́ đă sinh  ra họ cách thiêng liêng nhờ phép rửa và giáo huấn.” (1 Cor 4: 15; LG. số 28).

 v́ họ cho rằng  Mẹ Maria đă sinh thêm con cái sau khi sinh Chúa Giêsu. Nghĩa là họ chỉ tin Đức Mẹ đồng trinh cho đến khi sinh Chúa Giêsu mà thôi.

Sau hết, về mặt quyền  b́nh, các giáo phái Tin lành đều không công nhận Đức Giáo Hoàng là Đại Diện duy nhất của Chúa Kitô trong sứ mạng chăn dắt đoàn chiên của Người trên trần thế.

 

3- về bí tích:

Tất cả các nhóm Tin Lành đều không có các bí tích quan trọng như Thêm sức, Thánh Thể, Ḥa giải, Sức Dầu bệnh nhân và Truyền Chức Thánh 

cầu nguyện  trong nhiều năm qua.

Chúng ta tiếp tục cầu xin