Ngày 10 tháng 7

Thánh Antôn NGUYỄN HỮU QUỲNH
Trùm họ, 72 tuổi. Bị thắt cổ ngày 10-7-1840.

(gương: Chia sẻ của cải giúp người nghèo, sống Lời Chúa, người Samaritanô tốt lành).

            1. Thân thế: Antôn Nguyễn hữu Quỳnh sinh năm 1768 tại làng Mỹ Hương, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng B́nh. V́ là con thứ năm, nên thường được gọi là Quỳnh Năm.

            Thời niên thiếu, cậu xin làm đệ tử Đức cha Labartette B́nh có ư học làm linh mục, nhưng v́ hai người anh trai cũng xin đi tu, nên gia đ́nh gọi cậu về để nối dơi tông đường. Năm 1800 theo việc cắt cử của làng xă, anh gia nhập đội quân của Nguyễn Ánh, góp phần chiến thắng quân Cảnh Thịnh, và được thăng chức Vệ úy. Đến khi đất nước đă thống nhất (1802), Gia Long lên ngôi, ông thấy đời quân ngũ không thích hợp liền xin giải ngũ. Trở về quê nhà, ông mua đất canh tác và buôn bán thêm để sinh sống. Đồng thời ông dành nhiều giờ học thêm nghề thuốc, và dần dần trở thành một lương y nổi tiếng khắp vùng.

            2. Thương giúp người nghèo: Thế nhưng đối với ông Quỳnh, tài sản, khả năng Chúa ban cho là để phục vụ mọi người, nên thay v́ thu tích cho bản thân, ông quan tâm phục vụ dân nghèo cách tận t́nh. Đối với họ, ông chữa bệnh miễn phí, săn sóc và đôi khi c̣n tặng họ thêm tiền để làm vốn nữa. Khi vợ con lên tiếng kỳ kèo, ông trả lời rằng: “Tôi chưa thấy những ai hay giúp đỡ kẻ nghèo khó lại túng bần bao giờ. Kinh Thánh chẳng dạy chúng ta phải coi họ như chi thể của Chúa đó sao? Chúa đă cho chúng ta sống, tất sẽ quan pḥng cho chúng ta đủ dùng”. Nếu bà và các con không đồng ư cho tôi lấy của nhà giúp người, tôi sẽ đi vay mượn hoặc làm thuê, kiếm tiến giúp họ”.

Khi các con khôn lớn, ông nói với chúng: "Cha đă nuôi dưỡng các con từ nhỏ, nay đă lớn khôn, các con sẽ lo tất cả cho gia đ́nh. Cha muốn dành tiền bán thuốc để chia sẻ với bà con nghèo khổ”.

Ḷng thương người của ông được biểu lộ rơ rệt hơn khi làng ông, gặp thời kỳ dịch tả. Ông bỏ ra cả hàng trăm quan tiền để phát thuốc, nuôi dưỡng, săn sóc bệnh nhân cách tận tụy. Ngài thật là người Samaritanô tốt lành.

 Để phục vụ con người trọn vẹn hơn cả xác lẫn hồn, ông Quỳnh Năm nhận lời làng Mỹ Hương giữ chức trùm trưởng.

            3. Trong thời cấm đạo:  Các linh mục tu sĩ phải rút vào bóng tối, vai tṛ của những người như ông rất cần thiết. Từ nay nhà ông biến thành lớp giáo lư, thành nơi tiếp nhận các thừa sai và giáo sĩ. Ông đứng ra điều khiển tổ chức mọi sinh hoạt kinh nguyện, tang lễ và bác ái trong vùng. Điều đáng lưu tâm là dầu bận rộn với việc tông đồ, ông vẫn khéo léo chăm sóc, dạy dỗ con cái sống Tin mừng. Cô gái lớn gia nhập ḍng Mến Thánh Giá, sau làm bà Nhất toàn thể Mến Thánh Giá Địa phận. Những người con khác cũng theo gương ông: trung kiên với niềm tin, và cùng với ông quên lợi riêng để lo cho công ích.
            Năm 1838, vua Minh Mạng ra lệnh truy nă linh mục thừa sai Candalh Kim. Ông Quỳnh thân hành đưa cha lên Kim Sen, một trang trại cũ của tổ tiên ḿnh, và đem theo một số sách vở, ảnh tượng của xứ Mỹ Hương. Thấy ông đi vắng lâu ngày, quan sai lính đến nhà ông khám xét. Họ lôi các đầy tớ ra đánh đập tra khảo, một người sợ quá đă khai ra chỗ của chủ. Khi đó quan định bắt luôn cả bà Quỳnh và hai cô gái út, một cô
14  tuổi, một cô 10 tuổi đang ở nhà. Quan cưỡng bức ba mẹ con xuất giáo, nhưng không ai tuân lệnh. Tức giận, quan cho lính đánh vào chân hai cô bé để ép buộc bước qua thánh giá, hai cô vẫn không chịu khuất phục. Đám lính liền xông đến lôi kéo hai chị em bước qua. Dĩ nhiên với tuổi nhỏ sức yếu, hai cô bé không thể chống cưỡng lại được, nhưng một mực hai cô bé kêu khóc ḿnh bị ép buộc, chứ ḷng luôn luôn tôn kính thánh giá. Quan không giấu được sự thán phục tấm ḷng son sắt, và đă tha cho cả ba mẹ con.
            Tiếp đó quân lính kéo nhau đến vây trại Kim Sen. Sau khi bắt được ông Quỳnh và tịch thu một số sách đạo, họ liền áp giải ông về Đồng Hới. Giữa đường ông nhắn tin một người con kín đáo đến gặp và hối lộ cho lính năm mươi quan tiền để xin đốt sổ ghi tên những người tín hữu trong xứ.
            Tại trại giam Đồng Hới. Ông Quỳnh vui mừng được gặp linh mục thừa sai Borie Cao, cha Điểm, cha Khoa cùng thầy Tự. Nhiều lần ông cũng bị tra tấn chung với các vị ấy. Nhưng bao giờ ông cũng tuyên xưng:
"Thà chết không thà chối Chúa dù chỉ trong giây lát". Có lần quan cho lính lôi ông qua thánh giá, ông liền lớn tiếng phản kháng rằng: “việc này do quan lớn làm, nếu có tội là quan phạm tội, chứ không phải tôi”. Câu nói đó làm quan bực ḿnh truyền đóng gông giải ông về ngục. Mấy bữa sau, quan hỏi cha Cao tại sao ông Năm lại cứng cổ đến thế. Vị thừa sai trả lời: “Các giáo hữu bước qua thánh giá v́ họ không hiểu rơ giáo lư và nhát gan, c̣n ông Năm đă am tường lẽ đạo, lại mạnh mẽ đức tin, quan lớn cưỡng bách mấy cũng vô ích, chẳng có lợi ǵ đâu”.

           Thất vọng, quan gửi án về kinh đô. Đức cha Cao bị kết án trảm quyết, hai cha Điểm, Khoa th́ bị kết án xử giảo ngay, c̣n thầy Tự và ông Antôn Quỳnh cũng bị xử giảo nhưng “giam hậu”, nghĩa là lệnh xử sẽ ban hành sau.
            Thời gian trôi qua quá nhanh, thấm thoát ông Quỳnh và thầy Tự đă bị giam
2 năm tṛn.
            Phần ông Quỳnh, dù đă 72 tuổi, vẫn biểu lộ đức cam đảm và nhẫn nại đáng khâm phục. Suốt ngày ông lo đọc kinh cầu nguyện, như mọi giáo hữu ở ngoài, ông giữ chay và yêu thương giúp đỡ mọi người. Nghề lang y của ông vẫn có cơ hội dùng đến, có lần ông chữa cho một viên quan ở Đồng Hới, và nhất là chữa bệnh cho các bạn tù đồng số phận.

           
Trong thời gian giam tù có ai đến thăm mà khóc lóc th́ ngài khuyên: "Xin đừng khóc nhưng hăy tạ ơn Chúa và cầu nguyện cho tôi để tôi có sức chịu khổ h́nh v́ Thiên Chúa". Có lần ngài nói với con cái: "Khi bị bắt, bố đă muốn khai tất cả mọi người trong gia đ́nh để cùng được chết với nhau v́ đạo thánh".

            Thấy kéo dài thời gian cũng không làm nản ḷng được ông Quỳnh, vua Minh Mạng chấp thuận cho quan tỉnh Quảng B́nh xử giảo (xiết cổ) ông. Khi bản án được vua phê chuẩn gửi về tới tỉnh, con cả vội vào trong tù báo tin lúc ngài đang ăn sáng. Ngài liền nói với con: "Bố mong đợi giờ này đă lâu, bây giờ được như ư th́ c̣n dùng của ăn dưới thế gian làm ǵ nữa".

        4. Lời trối sau hết: Vào ngày 10.7.1840, khoảng một trăm binh lính đẫn ông ra pháp trường chung với thầy Tự. Đến nơi, hai vị hỏi chỗ xử Đức cha Cao và hai linh mục Khoa và Điểm năm trước, rồi dừng lại đứng chỗ đó mà cầu nguyện: “Lạy Chúa, xin tạ ơn Chúa cho con được ân phúc như các ngài...”. Nguyện cầu xong, ngồi xuống, ông Quỳnh b́nh tĩnh chậm răi hút hết điếu thuốc được quan trao cho.
Hai người con đến từ giă, ông nhắc họ qua giă biệt thầy Tự, xin thầy về bên Chúa nhớ khẩn cầu cho các con. Thế rồi ông nói những lời sau cùng:
“Cha gửi lời chào các chức sắc và anh em giáo hữu Mỹ Hương. Cầu chúc mọi người b́nh an, trung thành giữ đạo. Hăy yêu thương nhau và sống đạo đức, các con sẽ gặp lại cha trên thiên đàng”.
       
Sau khi từ giă những người thân yêu, cả hai người liền qú gối xuống ngay tại chỗ các cha đă bị xử tử khi trước. Quân lính trói hai tay vào hai cọc và chân vào một cọc như h́nh thánh giá rồi ṿng giây qua cổ, mỗi đầu giây có ba tên lính cầm để khi nghe lệnh th́ xiết giây xử tử các ngài. Lúc đó ông trùm Năm thầm thĩ cầu nguyện: "Chúa tôi xưa cũng đă phải giang tay ra như tôi bây giờ mà chịu đóng đinh..." Ngay lúc đó có hiệu lệnh, quân lính liền kéo giây xiết cổ và linh hồn các ngài bay về với Chúa.