Ngày 24

THÁNH FERNANDEZ GIUSE HIỀN
Linh Mục Tâybanha tử Đạo.

(bị bắt 18-6-1838, xử trảm 24-7-1838 tại Nam Định)

        1. Con một đi tu và mong truyền giáo xứ lạ: Thánh Giuse Fernandez sinh ngày mùng 3-12-1775, tại làng Ventosa de la Cuesta, tỉnh Valladolid, nước Tây Ban Nha. Ngay từ hồi c̣n trẻ ngài đă xin đi tu ḍng Đa Minh. Cha Mẹ ngài rất đỗi vui mừng và lấy làm hănh diện coi ơn kêu gọi đi tu ḍng của đứa con trai ḿnh như một đặc ân của Chúa.  Sau khi thụ phong linh mục, v́ ước ao được dâng hiến đời ḿnh cho công việc truyền giáo nên ngài xin Bề Trên chuyển về Tỉnh Ḍng Mân Côi tại Philippine. Ngài đến Manilla ngày 16-4-1805. Gần một năm sau, ngài được  sai đi Bắc Việt giảng đạo. Ngài đi tầu đến cửa Thuận An th́ băo táp nổi lên nên ngài phải lên đất liền để đi bộ ra Bắc. Cuộc hành tŕnh xa xôi thật vất vả nên ngài đến nơi th́ kiệt sức phải nghỉ dưỡng bệnh một thời gian khá lâu. Lúc ấy là thời vua Gia Long đang trị nước, đất nước được bằng yên và các vị thừa sai được hoàn toàn tự do giảng đạo trong nước.

V́ ngài có tính hiền lành, khiêm nhường và dễ dăi nên tất cả mọi người, kể cả những người ngoại đạo đều kính mến ngài. Hạnh phúc của ngài là đem Chúa đến cho mọi người. Đức tin mạnh mẽ của những người trong làng Xuân Dục là công lao ngài xây đắp. Xứ Kiên Lao nơi ngài coi một thời gian khá lâu cũng nhờ ngài mà số giáo dân lên tới 5.000 người thời vua Minh Mạng bắt đầu cấm đạo.

Tính ra ngài đă sống cuộc đời truyền giáo tất cả được 30 năm. Bao nhiêu năm trời ngài làm việc không ngừng, nhưng có một điều ngài lấy làm hài ḷng nhất là suốt thời gian qua ngài không phải làm bề trên các anh em trong ḍng. Khi ngài vừa mới khỏi bệnh th́ nghe tin Đức Cha Y (Delgado) bị bắt tại Kiên Lao và đồng thời được tin bên Manila các anh em trong ḍng đă bầu ngài lên làm Bề Trên Tỉnh Ḍng coi sóc các việc bên đó. V́ đức vâng lời, ngài vội vàng sửa soạn nhận chức vụ mới, nhưng chưa kịp làm ǵ th́ việc cấm đạo bắt đầu gắt gao hơn, ngăn trở công việc của ngài.

        2. Chúa đă định cho chết th́ không chạy thoát: Lúc đó ngài đang ở Ninh Cường, giáo dân trong làng sợ các quan bắt được ngài ở đó th́ nguy cho cả làng, nên giục ngài đi nơi khác dù biết rằng ngài vẫn c̣n đang yếu đuối, sức khỏe chưa được hoàn toàn b́nh phục: "Xin cha đi khỏi nơi đây đi, nếu không cha bị bắt ở đây th́ chúng con không những mất gia sản mà mất cả tính mạng nữa".

Thế rồi ngài phải theo hai thầy kẻ giảng sang làng Quần Liêu bên cạnh, nhưng dân làng ở đó cũng sợ hăi chẳng kém ǵ bên làng Ninh Cường. Họ van xin vị truyền giáo đừng ở lại đó. Tội nghiệp cho vị linh mục già cả ốm yếu, dù ngài và hai thầy kẻ giảng đă dùng hết lư lẽ để khuyên bảo cũng vô ích. Thật đúng như lời Chúa Kitô nói: "Con cáo có hang, con chim có tổ, nhưng Con Người lại không có chỗ tựa đầu". Đang trong hoàn cảnh bối rối đó th́ may thay có Cha Tuần đang coi xứ Lác Môn đến, tạm thời gỡ rối cho ngài. Cha Tuần cảm thấy thật xấu hổ về hành động của họ nên ngài hết sức quở trách về sự hèn nhát, vô ơn và độc ác của họ. V́ vậy họ mới miễn cưỡng cho ngài trú ẩn trong làng nhưng chỉ hai ngày thôi, để ngài có đủ thời gian kiếm chỗ khác trú ẩn. Cha Tuần thấy ngài đă yếu đuối khổ sở như vậy nên quyết định ở lại bên cạnh giúp đỡ ngài dù có xẩy ra chuyện ǵ cũng không bỏ ngài.

Sau hai ngày trú ẩn trong làng họ bắt buộc ngài phải ra đi, nhưng chung quanh đó chẳng có chỗ trú ẩn nào an toàn cả. Cuối cùng Cha Tuần dẫn ngài sang Kim sơn Phát diệm bên kia sông, để kiếm chỗ ẩn an toàn hơn. Khi mới sang đó, họ được bổn đạo Kim Sơn tiếp đón và giúp đỡ. Nhưng cũng chỉ được mười ngày v́ khi quan tổng đốc tỉnh Nam Định hay tin vị linh mục ngoại quốc đă trốn thoát sang Ninh B́nh, ông liền báo tin và xin quan tỉnh Ninh B́nh dùng mọi cách để kiếm bắt ngài. Khi bổn đạo Kim Sơn nghe tin như vậy th́ sợ hăi vô cùng. Họ ép buộc hai cha xuống chiếc thuyền nhỏ và giấu trong một cái đầm lầy ở gần đó. Thuyền th́ nhỏ thiếu tiện nghi, mà trời mùa hạ lại nóng nực, và nhất là đầm lầy dơ dáy nhiều muỗi nên hai vị đă phải chịu cực khổ biết bao nhiêu. Cha sở xứ Kim Sơn nghe biết hoàn cảnh đáng thương của hai cha, liền lo liệu cho họ ăn uống và đem họ đến nhà một người ngoại đạo làm Thủ Chỉ làng . Cha sở tin cậy ông ta v́ trước ngài đă từng làm ơn cho ông, và ông ta đối với ngài cũng rất nghĩa thiết. Nhưng ḷng tham lam của con người không biết đâu mà lường được. Ông ta bị cám dỗ nặng nề v́ phần thưởng to lớn các quan hứa sẽ thưởng nếu ai bắt được hai vị này. Tám ngày sau ông ta không thể ḱm hăm ḷng ham muốn được thăng chức phẩm nữa, nên đi tố cáo với các quan, hẹn ngày và nơi để bắt cả hai người này. Để tưởng thưởng, vua đă thăng chức và cho hắn 100 lạng bạc.

Bị giam trong cũi chỗ xa xôi nhất của nhà tù Nam Định, Cha Hiền đă phải chịu khổ cực khủng khiếp v́ đói khát và nóng nực. Có lẽ ngài đă phải chết rục tù nếu Thiên Chúa không soi sáng cho ông Dương, một Kitô hữu giàu có nhưng rất tốt lành, đến chăm sóc ngài. Ông đút lót quân lính và bọn gác tù mới được vào chăm sóc ngài hằng ngày. Chính ông đă phải tự tay giúp ngài ăn uống, v́ ngài đă già lăo tuổi tác mà phải chịu bao nhiêu cực khổ nên mắc chứng bệnh như người bất toại không đưa tay lên mà ăn được nữa.

Quan Lê Văn Đức thường bắt ngài ra trước công đường nhiều lần để tra hỏi tên tuổi ngài, lư do đến miền Bắc Việt và đến được bao lâu... Ngài trả lời rất khôn ngoan và cẩn thận để tránh không nói điều ǵ có thể làm liên lụy đến những người khác. Khi các quan hỏi điều ǵ ngài không muốn trả lời th́ ngài nói tiếng Tây Ban Nha. Trước sau như một ngài chỉ nói đi nói lại có một câu: "Tôi là thầy cả trong đạo, đă sang nước này để giảng đạo mà thôi. Tôi nhất định giữ đạo Thiên Chúa cho đến cùng nên tôi sẵn ḷng chịu chết v́ đạo ấy".

Ngài yếu đuối về phần xác nhưng đức tin và ư chí ngài lại rất mạnh mẽ.

Các quan kinh ngạc khi nghe  ngài nói chuyện về cái chết sắp đến của họ một cách b́nh tĩnh mà c̣n hoan hỉ nữa.

Hai ngày sau quan cho điệu Cha Hiền ra trước công đường, c̣n dám đề nghị ngài khóa quá nữa, dẫn dụ cho ngài hy vọng là nếu ngài chịu khóa quá th́ ông sẽ xin vua tha ngài ra và cho ngài về nước Tây Ban Nha, nhưng trái lại nếu ngài từ chối th́ chắc chắn sẽ phải chết. Phẫn nộ v́ lời dụ dỗ như vậy, ngài đanh thép trả lời: "Quan nên nhớ là tôi sẽ không bao giờ khóa quá. C̣n việc trở về đất nước tôi th́ đó không phải là điều tôi mong ước. Đến Bắc Kỳ, tôi đă sẵn sàng đổ máu cho đạo Đức Chúa Trời, và làm chứng trước mặt mọi người là chỉ có đạo Đức Chúa Trời mới là đạo thật. Bởi thế tôi rất lấy làm vui mừng khi đạt được điều tôi hằng khao khát. Quan hăy tin chắc đi là tôi sẽ không bao giờ khóa quá".

       

            3. Chém đầu ta đi: Vị anh hùng tử đạo trả lời vắn tắt và cương quyết như sau: "Ta sẽ không chịu khóa quá. Chém đầu ta đi".

Tức khắc quan ra lệnh sửa soạn cuộc xử trảm. Trong khi chúng sửa soạn diễn hành đến chỗ xử tử, ngài bị một số người bàng quang trong đám đông túm vào chế nhạo. Đám trẻ con th́ tḥ tay vào cũi thi nhau kéo giật tứ phía bộ râu dài của ngài. Ngài chịu đựng không kêu than la rầy chúng.

Quân lính lôi ngài ra khỏi cũi và đặt ngài ngồi vào chiếc chiếu rách nát mà ngài thường nằm ngủ trong suốt thời gian bị bắt. Ngài đứng cũng không vững v́ chúng đă bỏ ngài đói gần chết. Chân ngài bị tê gần như liệt v́ phải ngồi măi một tư thế không được thoải mái, nhưng tâm trí ngài lại rất tỉnh táo và vui sướng. Ngài sấp ḿnh say sưa cảm tạ Chúa đă ban cho ngài hồng ân được đổ máu ḿnh ra để làm chứng cho đức tin chân thật mà ngài đă rao giảng tại Bắc Kỳ suốt 32 năm trời. Trong khi ngài đang ch́m đắm trong lời nguyện, quan lớn đưa tay ra dấu, đao phủ thủ liền đưa linh hồn vị anh hùng tử đạo về trời. Một tên lính tung đầu vị anh hùng lên trời ba lần như thông lệ mọi khi.

Trong khi đó hằng trăm Kitô hữu và cả những người ngoại đạo tranh nhau sờ tay trên thân xác không đầu của ngài. Dù các quan đă cố gắng ngăn cản, họ cũng mặc kệ, tranh nhau lấy di tích của ngài. Người th́ lấy vải hoặc giấy thấm máu đào của ngài, người th́ lấy cỏ hoặc đất mà máu ngài đă chảy xuống, người th́ lấy quần áo, chiếu, hoặc cũi và cố gắng ǵn giữ những đồ quư trọng đó v́ ḷng kính mến ngài. Thấy quang cảnh như vậy, các quan vừa hổ thẹn vừa giận dữ liền truyền lệnh tức khắc đào mộ chôn xác ngài ngay tại chỗ. Một Kitô hữu đă chuẩn bị sẵn mang theo một cỗ quan tài, liền đút lót các quan cho đặt xác ngài vào quan tài rồi mới chôn. C̣n cái đầu của ngài th́ quan ra lệnh treo lên cao nơi công cộng ba ngày để mọi người qua lại có thể nh́n thấy, rồi sau đó quăng xuống sông.