Ngày 26 tháng 7

Á thánh Anrê Phú yên

- sinh năm 1625   - tử đạo 26-7-1644 (19 tuổi)

- ĐTC Gioan Phaolô II phong Á thánh ngày 5 tháng 3 năm thánh 2000

 

Tôi rất xúc động khi đọc cuốn "Người Chứng Thứ Nhất" của tác giả Phạm Đ́nh Khiêm, khi thấy một chàng thanh niên (Anrê Phú yên) mới 19 tuổi đă chết một cách thật anh hùng, miệng đang kêu tên "Giêsu", Đấng mà chàng chưa một lần gặp gỡ.

Những nguyên nhân nào đă đưa Anrê đến cái chết anh hùng ấy?  và Anrê đă từng nói những lời nào để tỏ ḷng yêu mến nồng nàn đối với Chúa Giêsu?

Mời đọc cuốn "Người Chứng Thứ Nhất":

 

1- Anrê sinh năm 1625 tại Phú yên, theo tác giả PĐK, trong một gia đ́nh đông con, mà cậu là con út, (người út quí hóa như Ignatio lập Ḍng Tên, út Têrêsa Hài đồng Giêsu). "Cha cậu chết sớm", c̣n lại mẹ. Bà "là người công giáo rất đạo đức, tên thánh là Gioanna, chăm lo nuôi nấng, dạy dỗ đàn con". Đây là nguyên nhân đầu tiên đưa Anrê đến cuộc sống tốt lành.  “Bà rất chăm sóc việc giáo dục cho Anrê về đường đức hạnh và đường học vấn”. Quả thực, mặc dầu góa bụa và đông con “bà đă lo cho cậu, ngay từ những năm đầu, được học chữ nghĩa, kinh sử”. Nhưng có một điều khiến bà ngày đêm lo lắng không yên: con út của bà đă khôn lớn mà chưa được chịu phép rửa tội. Hơn mọi người khác, bà hằng cầu mong cho có giáo sĩ đến để rửa tội cho con bà". Chúa sẽ đáp ḷng mong ước của bà.

 

2- Khi lên 16, "Anrê  đă được cha Đắc lộ rửa tội năm 1641, tại xứ đạo Mằng Lăng ngày nay, cùng với 90 người khác trở lại đạo trong ṿng bốn ngày, nhân dịp cha Đắc Lộ viếng thăm địa hạt này. Cha viết:  “Đúng ba năm trước khi chết, mẹ thầy dẫn thầy đến cho tôi, và tôi được hạnh phúc rửa tội cho thầy”. "Như vậy, làng Hội Phú, nơi lập dinh trấn xưa kia, nay là “thôn Thành cũ”, thuộc xă An Ninh, địa sở Mằng Lăng, quận Tuy An, chính là quê tái sinh phần hồn của vị tử đạo tiên khởi Việt Nam".

 

3- Năm  lên 17, Anrê đă nhập đoàn thày Giảng: Sách Người Chứng viết: "Sau khi được rửa tội vào khoảng tháng 5 năm 1641, thiếu niên Anrê vẫn ở nhà với mẹ. Trước kia, bà đă chăm sóc dạy dỗ con, th́ từ lúc con vào đạo, bà lại càng chăm sóc hơn nữa, nhờ đó mà Anrê sớm có căn bản đạo đức. Giáo sĩ Đắc Lộ nói:

“Thầy bản tính hiền lành, trong sạch, ngay thật, rất có khả năng chịu mọi tác dụng của ơn thánh hóa. Mới chịu phép Rửa tội chưa bao lâu, thầy đă miệt mài trên đường nhân đức, và đă tiến bộ mau chóng, đến nỗi chỉ trong một thời gian ngắn đă đạt được tŕnh độ mà người khác phải nhiều năm mới đạt tới”...Không măn nguyện với bậc giáo hữu, thanh niên ấy nảy ư định tham gia vào việc làm cho nhiều người trở lại”.

"Dịp may đưa đến: năm 1642, giáo sĩ Đắc Lộ trở lại Phú Yên lần thứ hai. Anrê liền ngỏ ư t́nh nguyện đi theo giáo sĩ giúp việc truyền giáo. Thoạt đầu, giáo sĩ từ chối không nhận, v́ nghĩ rằng thời buổi cấm đạo, không nên đem nhiều người theo. Vả lại, Anrê hăy c̣n nhỏ tuổi, chưa biết giảng dạy cho bổn đạo, mà chữ nghĩa cũng c̣n ít. Nhưng Anrê vẫn năn nỉ măi không thôi, lại cậy nhờ những người quen thuộc nói giúp, sau cùng cả hai mẹ con cùng đến van nài, giáo sĩ phải nhận lời...Thế là Anrê từ giă gia đ́nh, đồng ruộng, từ giă ḍng sông Cái với nghề chài lưới, giũ bỏ trần tục giữa buổi hoa niên để đi theo tiếng gọi của Chúa.

"Được nhận vào đoàn Tông đồ đầu tiên ở xứ Nam cùng với chín thành niên khác,  Anrê bắt đầu thời kỳ tập sự…"…Và thầy giảng Anrê Phú Yên đă tỏ ra một môn sinh xuất sắc hơn cả.

"Thầy linh lợi thông minh, học đâu hiểu đó”.

“Người thầy không khỏe mạnh ǵ lắm, thế mà việc khó mấy trong nhà, thầy cũng làm luôn, nhiều khi lại làm quá sức ḿnh; thầy quên ḿnh để giúp kẻ khác.”

Sau thời kỳ huấn luyện, cha nhận thấy “Anrê ở nhà tôi chỉ ít lâu, nhân đức trong linh hồn thầy đă biểu lộ ra ngoài; thầy sống giữa chúng tôi như một vị thánh nhỏ; thầy có tư thái hiền hậu, đức vâng lời mau lẹ, rất kính trọng mọi người, khiến ai ai cũng đều cảm phục”.

Giáo sĩ lại cho biết, “Tất cả những lợi điểm đó chẳng làm cho thầy có chút vẻ ǵ là kiêu ngạo hay tự măn: Thầy coi ḿnh như kém hết mọi người, và không có ǵ làm cho thầy bằng ḷng hơn là được dịp phụng sự kẻ khác”.

 

Năm 1643, Anrê Phú yên (18 tuổi) tuyên thệ nhập hàng Thầy giảng: "Tại nhà thờ Hội An, ngày lễ kính thánh Ignatio lập Ḍng Tên, trong một bầu không khí trang nghiêm, 10 thanh niên tay cầm đuốc sáng, tiến lên trước bàn thờ, sấp ḿnh thống hối, cầu xin ơn Chúa Thánh Thần, rồi đặt tay lên sách Phúc Âm “tuyên thệ suốt đời phụng sự Hội thánh, không bao giờ lấy vợ, và sẽ vâng lời các cha Ḍng đến giảng đạo trong nước hoặc những vị thay mặt các cha”.

 

4- Năm lên 19 tuổi, thày Anrê chết v́ đạo:

 

Vào cuối tháng bảy năm 1644, ông Nghè Bộ phái một toán lính ra thẳng Hội An, t́m đến nhà cha Đắc Lộ và các thầy giảng.

"Hôm ấy là 25 tháng 7 năm 1644, lễ thánh Giacôbê tông đồ. V́ ḷng kính mến thánh tông đồ, Anrê đă dọn ḿnh xưng tội trước, và sáng hôm ấy xem lễ rước lễ rất sốt sắng. Giáo sĩ Đắc Lộ sau khi làm lễ rồi, liền cùng mấy thầy giảng, xuống thuyền để đi dinh Chiêm, có ư thăm quan Nghè Bộ để lấy ḷng ông, v́ nghe tin ông mới ở chính dinh về. Theo lệ thường, mỗi khi giáo sĩ đi đâu đều đem thầy giảng Anrê theo. Nhưng hôm ấy, Anrê xin ở lại nhà, để săn sóc bốn thầy đang đau bệnh. Giáo sĩ bằng ḷng để thầy ở lại, không ngờ rằng đức thương yêu của người thanh niên đạo đức ấy sắp được trọng thưởng bằng triều thiên tiên khởi tử đạo.

Lúc ấy đă gần trưa. Anrê đang ở trong nhà các thầy giảng th́ một toán lính xông vào. Họ t́m bắt Ynhaxô. Nhưng Ynhaxô đă cùng đi với giáo sĩ và các thầy, bọn lính t́m khắp nhà không gặp.

Thầy giảng Anrê bạo dạn ra mặt với bọn lính và nói:

“Nếu các ông muốn bắt thầy Ynhaxô th́ vô ích, v́ Ynhaxô không có ở nhà. C̣n muốn bắt tôi th́ rất dễ dàng: tôi là giáo hữu, hơn nữa là thầy giảng. Tôi có cả hai tội mà các ông khép cho thầy Ynhaxô để bắt thầy ấy. Nếu thầy ấy có tội th́ làm sao tôi vô tội được”.

Lính rất ngạc nhiên gặp người như vậy. Họ nhất định không bỏ qua mồi ngon trươc mắt, liền bắt và trói thầy Anrê rất chặt. Anrê chẳng những không chống cưỡng mà c̣n giúp lính trói ḿnh. Nhưng đến khi thấy lính hành hạ ḿnh như vậy chưa lấy làm đủ, lại c̣n xúc phạm đến ảnh Chúa và Đức Mẹ th́ bao nhiêu nhẫn nại, hiền từ trước biến thành nộ khí xung thiên: thầy chỉ trích hành động phạm thượng của bọn lính bằng những lời mạnh bạo, và nói tiếp:

“Nếu các ông quyết định lấy những ảnh thánh ấy, th́ cứ để tôi gấp xếp cẩn thận cho, càng dễ mang theo”.

Bọn lính nghe nói động ḷng, liền cởi trói cho thầy Anrê, để thầy tự ư gói các ảnh tượng. Thầy gói kỹ lưỡng đặt trong những cái hộp, để người ta khỏi sờ vào đồ thánh. Xong, thầy lại giơ tay cho lính trói ḿnh một lần nữa.

Thầy giảng Anrê mang xiềng xích đi giữa bọn lính, nét mặt vui vẻ. Sau khi xuống thuyền, lên tiếng rao giảng Đức Tin cho bọn lính. Chính những lời giảng ấy đă đem lại cho thầy phúc tử đạo, bởi v́ quan Nghè Bộ dựa vào chứng cớ ấy để giết thầy trong khi không bắt được thầy giảng Ynhaxô.

 

Trước mặt ông Nghè Bộ, khi nghe dụ dỗ bỏ đạo, thầy mỉm cười, cương quyết nói vắn tắt rằng,

"Quan có thể giết tôi cách dễ dàng, nhưng quan và cận vệ không thể làm cho tôi lay chuyển đức tin và ḷng kính mến Chúa Giêsu trong tâm hồn tôi".

Ông Nghè tức bực tột độ, truyền đóng gông vào cổ thầy và đem xuống nhà giam.

Sáng hôm sau, Ông Nghè Bộ triệu tập phiên ṭa chớp nhoáng và tuyên án chết cho thầy, và án sẽ thi hành ngay đêm ấy. (Thời đó việc cấm đạo chưa gắt gao, chưa cần lệnh án tử nhà vua?)

 

Trong ngục tù, cha Đắc lộ, những người Bồ đào nha, t́m hết cách giải gỡ cho thầy mà không được, họ đến thăm thầy với ḷng cung kính làm cho nhiều người VN phải ngạc nhiên. Thầy ngửa mặt lên trời tạ ơn Chúa, quay lại cám ơn các bạn ngoại quốc đă tận tâm. Cha Đắc lộ ôm lấy thầy, hôn cây Thánh giá, hai cha con nghẹn ngào. Mọi người Bồ qú xuống xin thầy khi về Thiên đàng nhớ cầu cho họ. Các giáo hữu cũng làm như vậy. Thầy Anrê lấy làm xấu hổ v́ sự kính chuộng ấy, song không biết làm thế nào tránh được, liền ngửa mặt lên trời, như có ư xưng ḿnh chẳng đáng được kính chuộng như vậy, lại nói lớn tiếng rằng: “Tôi là kẻ rất có tội”, và xin mọi người cầu nguyện Đức Chúa Trời ban sức cho ḿnh được chịu sự khó cho đến chết.

Đầy ḷng tin cậy, thầy nói:

"Tôi không sợ kẻ chỉ giết được thân xác, tôi chỉ sợ Chúa là Đấng có quyền phạt cả xác hồn trong hoả ngục đời đời".(Chúa Giêsu đă dạy câu này Mt 10,28).

Quân lính và đồng bào ngoại giáo thấy cảnh tượng các người Âu Châu, từ vị giáo sĩ đến ông chúa tàu và các thương gia, đều tôn kính một con trẻ nước ḿnh như vậy, lấy làm ngạc nhiên vô cùng. Chẳng mấy chốc tiếng đồn lan ra khắp phố phường. Thiên hạ kéo đến đông nghịt chung quanh nhà lao, đủ mọi hạng người, lớn bé, đàn ông, đàn bà, bổn đạo hoặc bên lương.

Thầy Anrê đón tiếp mọi người rất niềm nở, và cảm ơn họ. Với anh em giáo hữu, mỗi lời thầy nói ra như một tia lửa yêu mến làm cháy ḷng người. Thầy nói:

“Hỡi anh em, đối với Chúa Giêsu rất yêu dấu của ta, ta hăy lấy t́nh yêu đáp lại t́nh yêu. Chúa đă chịu chết đau khổ v́ ta, ta hăy lấy sự sống đáp lại sự sống.”

Cả những người bên lương có mặt cũng tỏ ra động ḷng, họ cảm phục ḷng tin tưởng và can đảm của người thanh niên công giáo. Thầy Anrê không bỏ lỡ cơ hội để khuyên bảo họ những điều tốt lành và giảng giải cho họ về đức tin mà thầy sắp đổ máu để bênh vực. Thầy nói:

“Các anh em thấy rơ tôi đây đă bị bắt và sắp phải chết, chẳng phải v́ ăn cướp, giết người hay làm thiệt hại ai, mà chỉ v́ tôi đă nh́n nhận Chúa tể Trời đất và Con Một Người xuống thế chịu chết chuộc tội cho ta. Mọi sự ta có đều do nơi Người. thế mà người ta lại muốn tôi phạm đến Người. Tôi chẳng sợ bất cứ h́nh phạt nào người ta có thể bắt tôi chịu, tôi chỉ sợ lửa hỏa ngục đời đời, là h́nh phạt dành cho kẻ từ chối không tin thờ Chúa Giêsu Kitô là Đức Chúa Trời thật. Hỡi anh em, anh em hăy coi chừng, đừng từ chối ơn Đức Chúa Trời muốn ban cho anh em, phải liệu sao cho khỏi bị xử phạt đời đời.”

Như người lực sĩ mong sớm về tới đích vinh quang, thầy giảng Anrê, lực sĩ vô địch của đức tin, nóng ḷng chờ đợi từng phút, giờ hạnh phúc của ḿnh. Thầy năng hỏi lính:

“Sắp đến giờ chưa? Tôi đă sẵn sàng rồi mà sao người ta chậm thế, c̣n chờ ǵ nữa?” Thầy lại thường nói:

Tôi tưởng như cửa thiên đàng đă mở ra cho tôi, tôi thấy Chúa Giêsu đang đứng trước cửa đó để đón nhận tôi, bao nhiêu thánh tử đạo giơ cho tôi mũ triều thiên và cành thiên tuế. Ôi! Thiên đàng! Hạnh phúc dường nào! Mau mau cho tôi về thiên đàng! Tại sao người ta tŕ hoăn tôi lâu vậy.”

Cảnh tượng này gây nên trong ḷng giáo sĩ Đắc Lộ cảm tưởng như sau: “Tôi thỏa măn trong ḷng nh́n thấy sự can đảm của một tinh binh trẻ tuổi của Chúa Giêsu. Trong sự đau khổ tột bực v́ sắp phải mất thầy, tôi vẫn không ngớt khen Thiên Chúa, và trong ḷng đầy sự yên ủi, v́ Chúa đă ban sức mạnh cho một con trẻ để toàn thắng sự chết rất kinh khủng.”

Mặc dầu thầy Anrê có thói quen cứ tám ngày xưng tội một lần, và mới rước lễ sáng hôm qua, nhưng lúc này thầy muốn xưng tội lại để được trong sạch hơn, hầu ra trước ṭa Chúa phán xét. Thầy cầm trí xét ḿnh, ăn năn tội, rồi xưng tội rất mau chóng. Cha Đắc Lộ ghi chép: “Thầy cáo ḿnh một cách kỹ lưỡng, song tôi nói quyết rằng, tôi khó ḷng t́m thấy điều ǵ đáng phải làm phép giải tội. Lương tâm rất trong sạch ấy chẳng làm cho tôi ngạc nhiên chút nào. Tôi đă quá rơ tấm ḷng tinh tuyền vô tội mà thầy hằng ǵn giữ, nhất là từ ngày chịu phép Rửa tội, cho nên tôi chẳng lấy làm lạ v́ thấy trong sạch như Thiên thần”.

Giáo sĩ viết tiếp: “Trong hai năm liền, tuần lễ nào tôi cũng nghe thầy xưng tội, và thường thường tôi vẫn gặp khó khăn như vậy khi giải tội cho thầy. Đó là một tâm hồn thành thật, một lương tâm trong sạch, một trí tuệ minh mẫn. Mỗi lần thầy xưng tội, không lâu quá một kinh “Lạy Cha”, một kinh “Kính Mừng”. Tóm lại cuộc đời thầy giống hệt như đời một tập sinh sốt sắng trong một ḍng tu rất nghiêm ngặt.

Đến khoảng bốn giờ chiều, thầy giảng Anrê trông lên mặt trời, thấy hăy c̣n cao th́ nói: “Sao mặt trời chẳng đi cho chóng?” Lúc ấy một người lính đến bảo đă sắp đến giờ đi xử, phải sửa soạn, muốn ăn ǵ th́ ăn kẻo không kịp. Cha Đắc Lộ khuyên thầy nên dùng một chút của ăn để lấy sức đi đến pháp trường cách đó hơi xa. Giáo sĩ đă mang sẵn một ít đồ ăn nhẹ, thầy Anrê cầm lấy ăn một vài cái bánh, uống một ly nước, rồi nói thế là đủ, chẳng cần ǵ hơn nữa, “để dành ăn tiệc thịnh soạn trên thiên đàng” . Sau đó thầy làm việc tin, cây, kính mến Đức Chúa Trời, dâng phú ḿnh cho Chúa, luôn luôn kêu tên Giêsu, Maria, và khiêm nhường cầu nguyện Ơn Chúa nâng đỡ.

Nhóm người Bồ Đào Nha cũng vẫn chưa rời người tù có phúc. Họ có ư ở lại xem xử án tường tận, để có thể làm chứng sau này. Họ nói rằng: “Từ khi lính đến báo tin, thầy Anrê càng vui vẻ hơn, diện mạo xem như Thiên thần”.

Năm giờ chiều. 40 người lính dưới quyền chỉ huy của một cai đội, được lệnh đưa thầy Anrê đi xử. Họ đến mở cửa tù, song không tháo gông, bảo thầy đi theo. Thầy chẳng đợi kêu đến lần thứ hai, mỉm cười từ giă các giáo hữu đến thăm, dặn họ cầu nguyện cho sự hy sinh thầy sắp chịu, rồi vui vẻ lên đường như "được mời đi dự tiệc cưới”.

Linh mục Bỉnh thuật rằng: Một người lính đi trước thỉnh thoảng ra lệnh “V́ theo đạo Bồ đào nha  th́ phải phạt”. Hai người lính khác khiêng thanh la, một người đánh: tiếng thanh la ngân vang sầu thảm cả phố phường. Các lính khác vơ trang bằng giáo, đ̣ng và mă đao, nối nhau đi hai hàng nghiêm chỉnh. Thầy giảng Anrê đeo gông đi giữa, do một người lính áp giải, tay trái y nắm đầu gông thầy, tay phải cầm một ngọn giáo hai lưỡi, mỗi lưỡi dài tới hai gang, rộng bằng ba ngón tay.

Dân chúng lương và giáo, đi theo rất đông, như một đám rước, để chứng kiến sự can đảm của thầy. Cha Đắc Lộ và nhóm thương gia Bồ cũng có mặt trong cuộc tiễn hành sau cùng này.

Bọn lính đi sau. Thầy Anrê mặc dầu đeo gông nặng cũng đi mau lẹ. Muốn theo kịp, cha Đắc Lộ và những người Bồ cứ phải chạy. Dọc đường thầy giảng Anrê tỏ ra rất b́nh tĩnh, vui vẻ, vừa đi vừa giảng đạo cho những người lính gần ḿnh, ước mong cho họ được cứu rỗi. Giáo sĩ Đắc Lộ thường đi sát luôn bên cạnh thầy để yên ủi và khuyến khích thầy. Thỉnh thoảng bọn lính xô người ra, nhưng giáo sĩ lại áp tới. Giáo sĩ thuật rằng:

“Chúng tôi đi qua tất cả các phố lớn ở dinh Chiêm rồi đến một cánh đồng cách xa hai ngàn bước, là nơi để thầy giảng Anrê chiến đấu và thắng trận.”

Tới pháp trường, viên chỉ huy dừng lại, toán lính bao vây lấy thầy giảng Anrê. Thầy tự ư quỳ xuống, mắt nh́n trời, cầu xin Ơn Trên giúp sức.

Lúc ấy, giáo sĩ Đắc Lộ khổ tâm vô cùng, v́ bọn lính bắt người ở ngoài ṿng vây của họ. Giáo sĩ năn nỉ cùng viên chỉ huy: “Thanh niên này chẳng khác nào như con tôi, v́ tôi đă rửa tội cho anh và đă nuôi nấng anh trong nhà tôi trọn ba năm. Tôi đă chẳng có phương thế để cứu sống anh, th́ bây giờ tôi nài xin ông vui ḷng cho tôi được giúp đỡ anh ít là trong giờ lâm chung này”.

Ông ta liền cho phép ngay. Giáo sĩ tiến lại gần thầy Anrê, ôm lấy thầy, khuyến khích thầy.

Giáo sĩ có nhờ người ta mua và mang sẵn mấy cái chiếu rất đẹp, mới tinh. Lúc ấy giáo sĩ trải chiếu ra, muốn cho thầy Anrê quỳ trên đó, để máu trong sạch đổ ra không rơi xuống đất. Thầy khiêm nhường từ chối, xin giáo sĩ bằng ḷng cho thầy quỳ yên như trước, để được bắt chước Chúa đă đổ máu xuống đất. Giáo sĩ không dám cưỡng nhân đức khiêm nhường của thầy. Thế là thầy Anrê vẫn quỳ như trước, hai gối sát đất, hai tay chắp lại, mặt b́nh tĩnh, mắt nh́n trời.

Quân lính tháo gông ở cổ thầy ra để xuống đất rồi lấy thừng trói ngang người. Biết đă đến giây phút tối hậu, thầy giảng Anrê quay lại phía các giáo hữu để từ giă họ lần sau hết. Ở đây, giáo sĩ Đắc Lộ có thuật bằng tiếng Pháp lời từ biệt của vị tử đạo, dịch như sau:

“Hỡi anh em, ta hăy trung tín cùng Đức Chúa Trời cho đến chết; cho đến chết, không một điều ǵ có thể dập tắt ḷng kính mến Chúa Giêsu Kitô trong trái tim ta”.7

Nhưng may mắn hơn, tài liệu tiếng Bồ đă phiên âm và ghi chép trực tiếp câu nói tiếng Việt mà vị tử đạo nói ra lúc ấy, chẳng những để từ biệt các giáo hữu có mặt, mà c̣n như lưu lại chúc thư cho đời sau:

“Hỡi anh em, chúng hăy giữ nghĩa cùng Đức Chúa Giêsu cho đến hết hơi, cho đến trọn đời”.

Đến đây, thầy giảng Anrê phó ḿnh trong tay Đức Mẹ, Nữ vương các thánh tử đạo. Thầy đọc kinh “Kính Mừng” nhiều lần rất sốt sắng, và kêu tên Chúa Giesu và Đức Mẹ Maria tỏ tường nhiều lần.

Người lư h́nh biết rằng đây là kẻ lành, cho nên trước khi hành quyết, y ngửa mặt lên trời, kêu lớn tiếng: “Lạy Trời, nếu tôi có phạm tội v́ giết người này, th́ xin tha cho tôi, v́ tôi chỉ là người thừa hành”. Nói rồi, y tiến đến sau lưng thầy Anrê, đâm một mũi giáo vào khoảng giữa hai bả vai, xuyên từ sau lưng ra trước ngực, tḥ ra ngoài tới hai gang tay.

Đến đây, chúng tôi xin nhường lời cho giáo sĩ Đắc Lộ: “Thầy Anrê từ trước vẫn nh́n trời, lúc ấy quay mặt lại phía tôi, nh́n tôi rất âu yếm để từ biệt. Tôi thú thật rằng cái nh́n ấy là một lưỡi giáo đâm qua trái tim tôi, và làm cho đôi mắt tôi tuôn lệ ṛng ṛng, miệng tôi nghẹn ngào nói không nên lời.

“Tuy nhiên tôi cũng cố hết sức ngỏ lời cùng thầy: “Hỡi con Anrê, hăy nh́n lên trời, ḱa Chúa chúng ta, Giêsu Kitô, Thầy nhân từ của con, đang đưa triều thiên ra cho con, chỉ một lát nữa con đă ở bên Người trên thiên đàng, Người đang đứng ở cửa mà chờ con”. Bấy giờ thầy ngửa mặt nh́n trời, và cứ nh́n như vậy măi, trong mỗi giây phút c̣n sống, miệng không ngớt đọc tên cực trọng: Giêsu! Maria!

“Người lính lúc này, rút cây giáo lại, rồi đâm một lần nữa, và một lần nữa, như muốn t́m cho trúng trái tim.

“Tôi mê hồn nh́n thấy người thanh niên chân phước kia, lúc ấy quỳ gối, và đă bị đâm ba lần ở sau lưng, chẳng những không ngă quỵ, mà lại không hề lay chuyển; thầy được vững mạnh như vậy trong ơn thánh sủng nâng đỡ thầy; thầy vẫn luôn luôn không chuyển động, và tôi thấy diện mạo của thầy không mất chút nào vẻ b́nh thản cũng như về màu sắc. Người ta có thể tưởng như không phải thầy bị đâm, hoặc giả là thân xác thầy có sức tự nhiên bất động. Bấy giờ một người lính khác sốt ruột, hay là động ḷng thương hại một con chiên bị khổ h́nh quá lâu, không nói nửa lời, tuốt gươm ra, chém một nhát mạnh vào cổ bên trái, v́ thầy hơi nghiên đầu về phía tay mặt, nhưng người ấy thấy lát thứ tư này, cũng như ba lát trước, không làm cho thầy ngă xuống, họ lại chém một lát nữa ở phía trước, cắt đứt hết cuống họng, làm ngă hẳn đầu, chỉ c̣n dính sơ vào một chút da.

“Có lẽ người ta khó ḷng tin điều tôi sắp nói sau đây, nhưng tôi nói quyết, với tất cả một ḷng thành thực, rằng tôi không hề nói điều ǵ mà tôi không biết thật chắc chắn và không đích thân nghe thấy.

“Người thanh niên thánh thiện này (như trên đă nói) vẫn không ngớt đọc thánh danh Chúa Giêsu; ngay lúc đầu thầy đă rời khỏi cuống họng, và nằm ngả trên vai bên phải, tôi nghe thấy rơ ràng tên cực trọng Giêsu ấy phát ra từ vết thương nơi cổ, cùng một giọng giống hệt như từ cửa miệng phát ra lúc trước; tôi nghe thấy thế rất rơ ràng và tất cả những người gần tôi lúc ấy đều nói như vậy, vừa vui mừng lại vừa kinh ngạc.

“Thánh danh Giêsu không thể phát ra đàng miệng thầy nữa, th́ lại phát ra từ trái tim thầy, ngay đang lúc thôi đập, để tỏ rằng trái tim này dầu có chết, cũng c̣n giữ măi thánh danh kia, và khi không thể dùng miệng lưỡi mà ca ngợi tên Giêsu được th́ thầy dùng chính vết thương ḿnh mà ca ngợi danh Chúa.

“Thầy Anrê muốn được bằng số vết thương của Chúa, thầy chỉ nhượng bộ, và chỉ bỏ ḿnh sau thương tích thứ năm, như vậy là muốn hoàn toàn bắt chước Chúa Giêsu trong mọi sự.

“Bấy giờ, xác thầy mới ngă xuống đất, và linh hồn thong dong bay về trời; viên cai đội và quân lính lập tức rút về, chỉ c̣n chúng tôi và các giáo hữu ở lại, vây quanh thánh cốt. Tôi đă mang sẵn một tấm vải trắng lớn, dùng vải ấy liệm xác thầy; bao nhiêu máu chảy ra tự năm nguồn mạch oai hùng kia, tôi vẫn giữ từ ngày ấy như một thuốc thơm và một linh dược chữa mọi bệnh nạn.

“Tất cả các bổn đạo cùng làm như vậy, nhất là những người Bồ, họ hứng lấy mọi giọt máu đào kia, lấy làm quư hơn hết các kho tàng.

Trời vừa tối. Giáo hữu khiêng thi hài vị tử đạo xuống thuyền chở về Hội An.

Ngày lịch sử ấy là 26 tháng 7 năm 1644 – đúng 30 năm sau khi các giáo sĩ ḍng Tên đến đặt nền móng Giáo hội tại Việt Nam.

Là lễ phẩm đầu của người Công giáo Việt Nam, thầy giảng Anrê tử đạo lúc ấy giữa 19 tuổi xuân. Người được biết Chúa mới có ba năm, nhập đoàn tông đồ hai năm, làm lễ khấn một năm, rồi bị bắt và bị giết trong không đầy 48 tiếng đồng hộ. Một đời sống quá ngắn ngủi, một thời gian phục vụ không đáng kể. Nhưng sự nghiệp người lớn lao, nhân đức người cao cả đẹp ḷng Chúa, đến nỗi Chúa sẽ không ngần ngại làm bao phép lạ để biểu dương tôi tớ Chúa trước mặt kẻ đồng thời và người hậu thế.

MB, Carthage 7-07 (Theo Phạm Đ́nh Khiêm, Người Chứng Thứ Nhất, Tinh Việt Văn đoàn, Sàig̣n,1959)