Ngày 31 tháng 7

1- THÁNH PHÊRÔ ĐOÀN CÔNG QÚY, linh mục 2- Thánh Emmanuel Lê Văn Phụng, Trùm họ,

 -------------

1- LINH MỤC PHÊRÔ ĐOÀN CÔNG QUÍ

(bị bắt ngày 7-1-1859, xử trảm ngày 31-7-1859)

(Tôn kính Đức Mẹ dặc biệt)

        1. Nhiệt thành với bổn phận, ao ước chết v́ đạo: Trong thời kỳ bắt đạo, các linh mục Việt Nam đă tỏ ra rất anh dũng với sứ mệnh d́u dắt con chiên, như tấm gương của Cha Phêrô Đoàn Công Quí, cha sở họ Đầu Nước, Cù Lao Giêng, thuộc tỉnh Vĩnh Long. V́ có người tố giác trong vùng có đạo trưởng trốn ẩn, Cha chính Borelle nhắn Cha Quí tạm thời trốn đi khỏi xứ, Cha Quí đă trả lời: "Nếu bề trên muốn tôi trốn khỏi đây th́ tôi xin ngài viết cho tôi bài sai chính thức, nếu không tôi sẽ ở lại xứ dường như không có lệnh nào của bề trên vậy".

Cũng có lần cha bầy tỏ ḷng mong ước được tử đạo: "Chớ th́ tôi không được diễm phúc chiến đấu và chết v́ danh Chúa sao, ước ǵ xích xiềng trở thành những ṿng đeo quí giá, gông cùm thành ṿng đeo tay. Hăy xem bao nhiêu bạn hữu đă được ngành lá chiến thắng, c̣n tôi như người lính canh bị quên bỏ. Ôi! Lạy Chúa, xin ban phúc tử đạo cho con".

Quả thật Chúa đă nhận lời ngài. Cha Borelle lĩnh ư đức cha và sai đem hai chiếc thuyền đến đưa cha về nhà chung để tránh cuộc lùng bắt, nhưng có ngờ đâu hai ngày sau khi vừa tới họ đạo Đầu Nước thuộc An Giang th́ Cha Quí bị bắt trong nhà ông Phụng. Cha Borelle viết lại: "Trong khi tôi muốn đưa cha đi khỏi chỗ nguy hiểm th́ lại đưa cha đến nơi tử đạo như ngài hằng ước mong".

        2. Ư Trời khác ư người: Cha Phêrô Đoàn Công Quí sinh năm 1826 tại họ Búng, tỉnh B́nh Dương. Cha là Antôn Đoàn Công Miêng và mẹ là Anê Nguyễn Thị Tường. Ngay từ bé cậu Quí đă muốn dâng ḿnh cho Chúa nhưng cha mẹ thấy cậu học hành thông minh th́ cho người anh đi tu c̣n giữ cậu ở nhà. Nhưng ư Thiên Chúa định thể khác, người anh đi tu không được phải trở về nhà, lúc ấy cha mẹ mới ưng cho cậu Quí đi tu. Năm 1847 cậu Quí ở với Cha Tam và sau học Latinh với Thừa Sai Miche rồi vào chủng viện Thánh Giuse ở Thị Nghè do Cha Borelle làm bề trên. Năm sau cậu được gửi sang học ở chủng viện Penang.

Sau bẩy năm miệt mài đèn sách, Thầy Quí về nước dậy giáo lư chờ ngày gọi làm linh mục. Thầy có tài hát xuớng nhất là bài ca kính Đức Mẹ mà thầy rất ưa thích. Thầy có ḷng nhiệt thành muốn cho có nhiều người thờ phượng kính mến Chúa đă đem được nhiều người trở về. Đức Cha truyền chức linh mục cho thầy khoảng tháng 9 năm 1858 tại Thủ Dầu Một và làm cha phó họ Cái Mơn.

Ngày 10-12 nhà ḍng bị bao vây và các nữ tu bị bắt giam ngục. Cha Quí viết thư cho bề trên như sau: "Thưa cha, thật con đang ở giữa những nguy hiểm, nhưng Thiên Chúa ǵn giữ chưa để con phải bắt, v́ tội lỗi con c̣n nhiều chưa được phúc chịu khổ v́ Chúa. Ôi, ngày xưa Chúa Cứu Thế đă phải chết treo trên thánh giá, con thật chưa xứng đáng. Con mong ước được đến nhà tù để khuyến khích các vị xưng đức tin. Khi nào cha mới cho phép con được đi làm điều đó?"

        3. Muốn tử đạo, được tử đạo: Khi được lệnh đổi về nhà chung, Cha Quí đă bầy tỏ nguyện ước được tử đạo và viết lời cầu xin này bằng dấu nhạc: "Lạy Chúa xin ban phúc tử đạo cho con". Bề trên đem thuyền đến bắt cha phải về nhà chung và khi thuyền đến họ Đầu Nước đêm ngày 7-1-1859 th́ cha bị bắt trong nhà ông thánh Phụng v́ có người tố giác có đạo trưởng Tây trú ẩn. Lúc ấy có Cha Pernot đang ẩn trốn trong hầm nhà ông. Quan lănh binh mang 300 lính về vây. Cha Pernot bảo Cha Quí đi trốn, Cha Quí lại xin cố đi trốn c̣n ḿnh bọn lính sẽ không nhận ra. Khi quan đến nhà ông trùm Phụng, quan bắt ông giao nộp đạo trưởng Tây. Chủ nhà thản nhiên trả lời: "Ở đây không có ai là đạo trưởng Tây Phương cả".

Quan hỏi lại: "Vậy đạo trưởng ở đâu?"

Lúc ấy Cha Quí đứng ra xưng ḿnh là đạo trưởng: "Đạo trưởng chính là tôi".

Quan thấy khuôn mặt c̣n trẻ trung, không tin quát: "Mày không phải là đạo trưởng, hăy nộp ngay đạo trưởng Tây Phương v́ có kẻ đă trông thấy và tố cáo".

Cha Quí quả quyết không có đạo trưởng Tây, mà chỉ có ḿnh là đạo trưởng và sẵn sàng dậy đạo cho ai muốn nghe. Quan túm cổ một đứa bé tra hỏi, nó chỉ Cha Quí và nói đạo trưởng là ông đó. Chừng đó quan mới tin và bắt Cha Quí, ông trùm Phụng và 32 người trong họ đem giải về tỉnh Châu Đốc.

Trước mặt quan đầu tỉnh Cha Quí một mực xưng ḿnh là đạo trưởng. Quan truyền lệnh: "Ngươi có muốn vâng lệnh vua và từ bỏ đạo không?"

- "Tôi giữ đạo từ thuở nhỏ không thể chối bỏ được, quan muốn ra án thế nào mặc ư, tôi sẵn sàng chấp nhận".

Quan lại hỏi về cha mẹ và những việc đă làm. Cha Quí trả lời: "Cha mẹ tôi đă chết, tôi theo đạo trưởng đi Tây rồi Cam Bốt, Oudong, và về tới nhà ông Phụng. C̣n sách vở và đồ đạo thuộc Cha Thang".

Quan lại bắt cha chối đạo nếu không sẽ phải chết. Cha Quí cương quyết thưa: "Làm sao tôi bỏ đạo trong khi tôi dậy bảo người khác. Nếu quan thương th́ tôi được nhờ, bằng quan muốn kết án th́ tôi sẵn sàng, c̣n chối bỏ Thiên Chúa th́ không bao giờ".

Lần khác các quan cũng hỏi như vậy th́ Cha Quí thưa: "Thật chỉ uổng phí mất giờ của quí quan để hỏi như thế, tôi không bao giờ chối đức tin của tôi đâu".

Trước những câu trả lời cương quyết như thế các quan kết án tử h́nh v́ đă rao giảng tà đạo và gửi án về kinh.

Trong nhiều tháng bị giam trong tù chờ lệnh vua, Cha Quí sốt sắng cầu nguyện, ăn chay và khuyên nhủ những người đến thăm. Cha khuyên chú Tam, con ông Phụng: "Con hăy siêng năng đến ṭa giải tội, đừng quên đọc kinh, cũng đừng phạm tội để linh hồn con được mạnh mẽ".

Có hai tín hữu bị bắt với ngài v́ sợ cảnh lưu đầy khổ sở đă chối đạo, nhưng được Cha Quí khuyên bảo nên họ đă trở lại.

Ngày 30-7-1859 án của triều đ́nh về tới tỉnh và quan ấn định hôm sau sẽ thi hành. Sáng sớm hôm sau, nguời lính cai tù đến báo tin giờ hành quyết đă tới. Cha Quí mặc áo chỉnh tề của ngày lễ, chít khăn trên đầu. Lính đến đeo vào cổ ngài tấm thẻ viết bản án và tên tuổi. Cha Quí nói với ông trùm Phụng cùng bị xử một ngày: "Đây là giờ Thiên Chúa ấn định cho cuộc chiến đấu cuối cùng, chúng ta hăy can đảm chịu đựng v́ Ngài".

        4. Tại pháp trường: Đoàn lính cầm gươm giáo dẫn giải hai vị anh hùng Công Giáo đến pháp trường ở Cây Mẹt. Trước khi lính thi hành phận sự, Cha Quí bảo ông trùm Phụng qú xuống, đọc kinh ăn năn tội để ngài ban phép giải tội cho. Với giáo dân Cha Quí trăn trối: "Anh em hăy t́m kiếm Nước Thiên Chúa trước, hăy tránh xa các tật xấu và hăy tập luyện nhân đức".

Sau cùng Cha Quí cầm tượng Đức Mẹ trong tay, trên ngực đeo hài cốt tử đạo, qú gối đọc kinh thống hối và đưa cổ ra chờ đợi. Sau ba tiếng chiêng, lư h́nh chém ba nhát gươm cổ mới ĺa khỏi thân. Quan giám sát thấy Cha Quí bất động chịu chém th́ nói chưa bao giờ thấy một người chịu chết can đảm như thế. Quan không cho ai đụng đến xác vị tử đạo từ 9 giờ sáng cho tới 4 giờ chiều, sau đó ông Chính mới xin phép quan để lo việc chôn cất.

------------------ 

2- ÔNG TRÙM EMMANUEL LÊ VĂN PHỤNG

(bị bắt 7-1-1859, xử giảo 31-7-1859)

(gương: Ngay thẳng, đạo hạnh tốt lành, bác ái, truyền giáo, giúp đỡ các linh mục, tôn kính Đức Mẹ).

Cố chính Borelle rất quen biết vị anh hùng tử đạo trổi trang của họ đạo Cù Lao Giêng, tức là ông trùm Emmanuel Lê Văn Phụng, đă viết bài tường thuật về cuộc đời của ngài rất tỉ mỉ và bài tường thuật được đăng trong tập san của hội Truyền Bá Đức Tin số 33 năm 1860. Sau đây là bài tường thuật đó:

            1. Con người thông minh, gan dạ: "Emmanuel Phụng, 62 tuổi, trưởng gia đ́nh đông con và giầu có. Không được học hành cao nhưng ông rất thông minh. Tính t́nh cả quyết, vóc dáng hiên ngang khoẻ mạnh. Mới trông ai cũng cho là một ông tướng chỉ huy.

Chính đức tin sâu xa làm cho đức tính của ông trở nên dịu dàng và được mọi người yêu kính, ngay cả những người bên lương.

Ông là một hiệp sĩ không biết sợ, đầy tin tưởng vào Thiên Chúa và vào khả năng của ḿnh. V́ thế ông cho xây nhà thờ ngay trên mô đất cao nhất của ḿnh, và bên cạnh là tu viện con cái Đức Bà Maria, nhà cha xứ và chủng viện.

Không đêm nào ông ngủ mà không canh chừng, hay đi tuần pḥng để các thừa sai và nữ tu được yên giấc. Khi mọi người lo sợ lúc có báo động th́ ḿnh ông là người điềm tĩnh. Tôi đă ở với ông ba năm trời trong nhiều thời kỳ khác nhau mà chưa khi nào thấy ông hoảng hốt báo động sai lầm. Đă có năm thừa sai trú tại nhà ông, tất cả đều nhận xét như vậy, và gọi ông là bánh nuôi sống hằng ngày.

       

            2. Con người quí trọng thánh lễ: Ông có ḷng muốn họ đạo có những lễ công khai và muốn có linh mục ở trong họ đạo luôn, nếu vắng trong dịp lễ th́ ông đi t́m cha ở họ đạo bên cạnh, khi không được th́ ông buồn chảy nước mắt. Nhiều lần tôi đă phải cản ngăn v́ lợi ích các họ đạo khác. Ông c̣n nhiệt thành lo t́m linh mục cho các bệnh nhân sắp chết. Một điều đặc biệt là mỗi khi ông giảng nghĩa giáo lư cho trẻ em th́ mọi người im lặng lắng nghe và chính ông nhẫn nại giảng giải tỉ mỉ. Đó là công việc ông rất ưa thích.

            Ngoài những đức tính trên ông c̣n có ḷng thương người đặc biệt. Trong thời kỳ dịch, ông mua chiếc ghe riêng để chở cha đi các họ đạo ban bí tích cho những nguời hấp hối. Một hôm ông đến họ Ḅ Ót có một nguời Công Giáo giầu có v́ cho vay nặng lăi, ông Phụng đă khuyên người sắp chết: "Nếu ông muốn hối cải th́ phải xé các giấy nợ đi, rồi tôi sẽ mời cha đến ban bí tích tha tội giao ḥa với Thiên Chúa".

Người bệnh đă nghe theo và làm như lời ông nói, sau đó chết êm ái.

            Khi c̣n trẻ ông đă được đức cha đặt làm giảng viên giáo lư cho họ đạo, về sau thấy ḷng tận tụy của ông, Đức Cha Lefebvre đă đặt ông làm giảng viên giáo lư cho cả tỉnh Châu Đốc. Những việc của ông làm quá rơ ràng khiến nhiều người tố giác với quan, nhưng ông đă khéo léo thu xếp với quan huyện để mỗi lần có cuộc lùng xét th́ được báo trước để cất giấu các đồ đạo, và khi quan đến khám được đăi ăn và không thấy đồ đạo th́ làm bá cáo dân ở Cù Lao Giêng vẫn tuân giữ luật phép nhà nước. Nhờ thế dù trong thời cấm đạo ngặt họ đạo vẫn có thể tổ chức lễ với đuốc sáng ban đêm.

        3. Bị bắt v́ kẻ nghiện ngập:  Có hai anh em bên lương chuyên hút sách và bài bạc tên là Trần Văn Miêu và Trần Văn Nên muốn lợi dụng cơ hội làm tiền, đến nói với những người đang làm nhà thờ rằng họ vi phạm luật nước. Ông Phụng v́ được quan huyện bao che không thèm để ư đến những lời của hai tên làm tiền này, tuy nhiên chúng nín nhịn chờ khi công việc xong sẽ tố cáo cấp trên. Quan tỉnh sai quan huyện điều tra nhưng mọi việc vẫn êm xuôi.
Hai tên bất lương lại ŕnh cơ hội khác. Một đêm sáng trăng Cha Pernot ra khỏi hầm trú để đi bách bộ ngoài vườn bị hai tên này trông thấy được, chúng liền đi lên tỉnh tố cáo nhà ông Phụng có chứa chấp đạo trưởng, có nhà ḍng, nhà thờ và chủng viện, chúng cũng xin quan tỉnh đừng sai quan huyện đến điều tra nhưng phải đem lính tỉnh về bắt. Đêm ngày 7-1-1859, quan tỉnh sai lănh binh mang 300 lính đi 15 chiến thuyền đến họ Đầu Nước. Được tin báo, ông Phụng không dè là lính trên tỉnh nên không kịp cất dấu các đồ. Khi lính đă tới đầu làng lúc các viên chức trong họ đang họp, ông biện Vi chỉ c̣n kịp đưa Cha Pernot đi trốn c̣n lại Cha Quí. Quan bước vào nhà ông Phụng hỏi ai là Lê văn Phụng.
Ông Phụng đứng ra nói: "Chính tôi đây".
- "Người Tây Phương, đạo trưởng Giatô đâu?"
- "Đạo trưởng Tây không có ở đây".
- "Không hồ nghi ǵ, tôi biết chắc ông chứa chấp đạo trưởng".
- "Thưa quan, quan có đông lính cứ việc cho họ đi lùng xét, ngài sẽ thấy không có đạo trưởng Tây".

        Lúc này Cha Quí đứng ra xưng ḿnh là đạo trưởng, c̣n không có đạo trưởng Tây nào cả. Quan cho lệnh bắt trói Cha Quí và ông trùm Phụng và 32 người Công Giáo trong họ.

Trên tỉnh, ông bị điệu ra trước mặt quan, bắt đầu cuộc tra vấn, ông nhận ḿnh là người Công giáo, là trùm trưởng, nhưng nhất quyết không bỏ đạo:
- "Bẩm quan, tôi giữ đạo Đức Chúa Trời từ nhỏ, nếu quan thương th́ tôi được nhờ, nhưng tôi không bao giờ chối đạo".
Quan không hỏi thêm, truyền lệnh đóng gông và xích đem giam ông vào tù. Tất cả những lần hỏi sau ông đều một ḷng can đảm thưa lại: "Tôi nhất quyết theo gương đạo trưởng".
Quan dụ dỗ: "Tôi trông mặt ông biết ông thuộc gia đ́nh quyền quí và có khả năng làm lớn, vậy hăy đạp ảnh đi ta sẽ phong tước cho".
- "Thưa quan lớn, tôi đội ơn ḷng tốt của quan, nhưng tôi nhất quyết giữ đạo cha ông truyền lại, tôi thà chết hơn là chối đạo".

        4. Hoàn toàn vâng ư Chúa: Biết không thể ép buộc được, quan kết án ông phải thắt cổ v́ tội chứa chấp đạo trưởng.
Theo lời khai của ông Phêrô Tam là con, th́ trong thời gian bị giam giữ ông rất b́nh thản, không cho phép vợ con bỏ tiền ra chuộc, hay trả thù. Ông nói: "Đừng trả thù những khốn khó cha phải chịu, Chúa đă muốn như vậy hăy để cha nhẫn nại chịu đựng".
Ông c̣n bảo con cái xé hết các giấy nợ, để không ai đ̣i nợ các con nợ hai lần và họ thấy chúng ta đối xử như thế này sẽ sốt sắng giữ đạo. Trong tù ông trùm cũng phân phát thuốc hút cho các bạn tù. Rất nhiều cha đến thăm và giải tội cho ông. Một lần ông được phép ra khỏi tù đi tắm, ra khỏi cửa thành thấy cột to, ông nói với ông thứ cùng đi rằng: "Nếu như tôi được trở về nhà tôi sẽ xây nhà thờ cột to như thế".
Án của triều đ́nh về tới Châu Đốc ngày 30-7-1859 và quan định thi hành vào ngày hôm sau. Sáng sớm quan cho gọi ông Phụng ra và dụ dỗ lần sau cùng. Ông Phụng cương quyết thưa: "Tôi giữ đạo của tôi, quan cứ việc đem đi giết".

            5. Bị xiết cổ đến chết: Người lính đi trước cầm tấm thẻ bài ghi như sau: "Lê văn Phụng, trước đây làm đầu trong làng, theo đạo Giatô, ẩn lậu sách vở đồ đạo trong nhà, đă xây nhà thờ để giảng đạo và đọc kinh, đă chứa chấp các đạo trưởng và cố chấp không chịu bỏ đạo. V́ vậy lệnh truyền phải coi Lê văn Phụng như phản nghịch và phải xiết cổ cho chết".

Hai chiến sĩ xưng đạo được đưa ra khỏi thành bằng cửa tả rồi đến Cây Mẹt, không xa thành bao nhiêu. Trông thấy con, ông trùm bảo về báo cho mẹ hay. Với những người đứng xung quanh tiễn đưa khóc lóc, ông nói: "Tại sao anh chị em khóc, anh chị em ở lại bằng an, hăy tuân giữ các lề luật giáo hội, hăy cầu nguyện sáng tối và hăy sống ḥa thuận với nhau".

Trông thấy người cháu gái là Anna Nhiệm, ông trùm lấy thánh giá đang đeo, hôn kính rồi đưa cho cháu nói: "Ông không thể cho cháu vàng bạc của cải ǵ quí hơn là h́nh ảnh Chúa Giêsu. Cháu hăy mang trên cổ và giữ luôn, khi cha con phải đi nhập ngũ th́ hăy ở lại nhà bà con, kẻo con quên hết các kinh sớm tối".

Tới nơi xử, các con đến qú trước mặt ông, ông trăn trối: "Các con phải trung thành giữ đạo, hăy noi gương cha con đây, đừng thù oán hay kiện cáo những kẻ đă tố giác cha. Hăy mang xác cha về chôn ở Đầu Nước cùng với xác Cha Quí".

Sau đó lư h́nh đóng cọc, đè vị anh hùng tử đạo nằm sấp xuống đất và cột tay chân vào các cọc. Tất cả sáu người tiến lại gần, hai người giữ đầu và người giữ lưng cho khỏi nhúc nhích, hai người cầm hai đầu giây chờ lệnh xiết chặt. Sau tiếng chiêng thứ ba, hai người lính xiết chặt hai đầu giây, đưa linh hồn người tôi tớ trung kiên về lănh phần thưởng nơi Nước Chúa. Buổi chiều quan cho phép thân nhân đem xác về họ Đầu Nước an táng trên nền nhà thờ".