Ngày 9
Thánh Edith Stein
nữ tu ḍng kín Carmelo
người Dothái (1891- 1943)
Bé sinh vào ngày lễ Yom Kippur (ngày lễ Xá Tội của người Do thái) vào năm 1891. Edith lớn lên trong một gia đ́nh có sáu anh chị em được người mẹ góa can đảm và giữ đạo Do thái chính thống rất nghiêm ngặt dạy dỗ hướng dẫn.
Edith rất thông minh, say mê triết học, bày tỏ sự đi t́m chân lư là lời cầu nguyện tha thiết nhất của bà. Trong lúc đó Edith cũng hăng hái tranh đấu cho công b́nh xă hội và nâng cao giá trị và quyền lợi của phái nữ.
Khi Đệ Nhất Thế chiến bùng nổ, Edith là giáo sư Đại Học Freiburg, là phụ tá cho giáo sư Husserl, người đề xướng môn phái hiện tượng học. Edith bắt đầu cảm nhận niềm tin Công giáo khi đọc các bài viết của thánh Thomas Aquinas và khám phá “Kinh Lạy Cha” là một bài kinh tuyệt vời. Cuộc đời của thánh Têrêxa Avila là nguồn cảm ứng linh thiêng thúc đẩy bà xin chịu phép rửa tội gia nhập đạo Công giáo sau một cuộc đi t́m kiếm chân lư lâu dài.
Khi nghe người
con gái xin theo đạo Công giáo, người mẹ đă khóc sướt mướt trong đau khổ, nhưng
đứng trước ḷng tin mănh liệt và ḷng cương quyết bà đành chấp nhận. Thay v́ từ
chối nguồn gốc Do thái giáo của ḿnh, Edith tin đạo Công giáo là sự nối tiếp và
hoàn tất niềm tin vào Thiên Chúa.
Edith bắt đầu dạy học ở trường các bà sơ Đa minh ở Spire và thường xuyên đến
thăm tu viện ḍng Biển đức ở Beuron. Sau đó Edith xin vào tu Ḍng Carmêlô và
trở thành sơ Têrêxa Biển Đức Thánh gía, c̣n em của bà là Rose Stein th́ gia
nhập Ḍng Ba Carmêlô.
Thánh Edith Stein đă hy sinh dâng hiến cuộc đời lên Thiên Chúa để làm lễ Xá tội
cho dân Israel, khi Đức quốc xă phát động phong trào tiêu diệt người Do thái.
Edith cùng người em đă di tản đến tu viện Echt ở Ḥa Lan. Các bà bị Đức quốc xă
bắt và đem giam ở trại tù Auschwitz và bị đưa vào ḷ hơi ngạt thiêu sống vào
ngày 9 tháng 8 năm 1943.
Thánh Edith Stein là người đă chịu chết v́ dân tộc của ḿnh, đă tỏ ra thành khẩn với ḷng nhân hậu và khoan dung, đă đề cao những giá trị tinh thần của niềm tin đạo Công giáo.
Thánh Edith Stein được Đức Giáo Hoàng Gioan Phao lồ II tôn phong lên hàng hiển
thánh ngày 1 tháng 10 năm 1999.