Tôi tin Giáo hội duy nhất (one), thánh thiện (holy), công giáo (catholic, và tông truyền (apostolic)

 

129. Tại sao Giáo hội là Duy nhất (One)?

-  Cũng như chỉ có một Chúa Kitô, th́ cũng chỉ có một Thân ḿnh Chúa Kitô, chỉ có một Hiền thê Chúa Kitô, do đó, chỉ có một Giáo hội Chúa Kitô. 

Chúa Kitô là Đầu, Giáo hội là Thân. Cùng nhau, mọi người làm nên "Chúa Kitô toàn thể" (Thánh Augustinô).

Giống như thân ḿnh có nhiều chi thể,, nhưng chỉ là một. Cũng thế, một Giáo hội được h́nh thành bởi nhiều Giáo hội địa phương (giáo phận). Cùng nhau, tất cả các giáo phận liên kết thành Chúa Kitô toàn thể (the whole Christ).

 

130. Các Kitô hữu "không- Công giáo" có là anh chị em với chúng ta không?

-  Tất cả những ai đă được Rửa tội (đúng phép) đều thuộc về Giáo hội Chúa Giêsu Kitô.

Các Kitô hữu không - Công giáo đă được Rửa tội, dù không hiệp thông trọn vẹn (full communion) với Giáo hội Công giáo, họ  cũng được gọi đúng là Kitô hữu,  do đó họ là anh chị em chúng ta.

 

131. Chúng ta phải làm ǵ cho việc hợp nhất Kitô hữu (the unity of Christians)?

-  Chúng ta phải vâng lời Chúa Kitô, trong lời nói cũng như việc làm, ư muốn của Người đă tỏ ra là : "Xin cho tất cả chúng nên Một" (Ga 17, 21). 

 

132. Tại sao Giáo hội là thánh (holy)?

-  Giáo hội là thánh, v́ Thiên Chúa là thánh, Người hành động trong Giáo hội. 

Mọi phần tử của Giáo hội được thánh hóa nhờ phép Rửa tội, dù mọi phần tử Giáo hội không hẳn là thánh.

 

133. Tại sao Giáo hội là công giáo (catholic)?

-  Công giáo, nguyên tiếng Hi lạp (greek) có nghĩa là toàn thể (whole). v́ Chúa Kitô muốn Giáo hội:

-tuyên xưng toàn thể đức tin (whole faith),

-ǵn giữ (preserve) toàn thể các Bí tích (all the Sacraments),

-công bố Tin mừng cho mọi người (all).

-Chúa Giêsu sai Giáo hội đến với mọi dân nước (all nations).

Trong Giáo hội Công giáo có những điều trên.

 

134. Ai thuộc về Giáo hội Công giáo?

-  Bất cứ ai:

- hợp nhất với đức Giáo hoàng và các giám mục,

- hợp nhất với Chúa Giêsu qua việc tuyên xưng đức tin Công giáo,

- lănh nhận các Bí tích,

người đó hiệp thông đầy đủ (full communion) với Giáo hội Công giáo.

 

135. Đâu là t́nh liên kết (relation) giữa Giáo hội Công giáo và người Do thái (Jew)?

-  Người Do thái là những anh em cao niên (older brethen) của Kitô hữu, v́ Thiên Chúa yêu thương họ trước, và ngỏ lời với họ trước. Chúa Giêsu Kitô là người Do thái, điều này liên kết ta với họ.

Giáo hội tin nhận Chúa Giêsu Kitô là Con Thiên Chúa hằng sống, điều này phân biệt ta với họ.

Cả 2 bên cùng chờ đợi Đấng Messia đến, điều này làm cho ta với họ giống nhau. 

 

136. Giáo hội coi những tôn giáo khác (other religions) thế nào?

-  Giáo hội tôn trọng mọi sự (respect everything) tốt lành  và chân thật (good and true) trong các tôn giáo khác.

Giáo hội tôn trọng và thúc đẩy (promote) tự do tín ngưỡng (freedom of religion) như quyền của con người (human right).

Tuy nhiên, Giáo hội biết rằng Chúa Giêsu Kitô là Đấng Cứu độ duy nhất (the sole redeemer) của cả loài người. Chỉ ḿnh Chúa "là đường đi, là sự thật, và là sự sống" (Ga 14,6)

 

137. Tại sao Giáo hội gọi là tông truyền (apostolic)?

-  Giáo hội gọi là tông truyền, v́ Giáo hội được xây dựng trên nền tảng là các tông đồ (apostles), Giáo hội nắm vững Truyền thống

(Tradition), và được các đấng kế vị cai quản (governed by their successors)

 

138. Giáo hội tổ chức thế nào để có 4 đặc tính: duy nhất, thánh thiện, công giáo, tông truyền?

-  Trong Giáo hội có các giáo dân (laity), và giáo sĩ (clergy).

Là con cái của Chúa, cả 2 loại bậc có nhân phẩm như nhau, quan trọng như nhau, nhưng nhiệm vụ khác nhau.

*Sứ mạng của giáo dân là hướng cả thế giới về Nước Thiên Chúa. 

*Nhiệm vụ của giáo sĩ (thừa tác viên lănh chức thánh) là:

- cai quản (ecclesiastical governance),

- giáo huấn (teaching),

- thánh hóa (sanctification).

 

*Trong cả 2 bậc sống, có những Kitô hữu dâng ḿnh để phụng sự Chúa qua đời sống tu Ḍng:

- độc thân (celibacy),

- nghèo khó (poverty),

- vâng phục (obediance). 

 

139. Ơn gọi của giáo dân (lay vocation) là ǵ?

-  Giáo dân sống trong xă hội đời (society) để làm cho Nước Chúa (kingdom of God) lớn mạnh nơi xă hội loài người.

 

140. Tại sao Giáo hội Chúa Kitô không là một tổ chức dân chủ (democratic organization)?

-  Dân chủ điều hành dựa trên nguyên tắc: "mọi quyền lực từ người dân mà đến".

Tuy nhiên, Giáo hội Công giáo điều hành dựa trên nguyên tắc: "mọi quyền lực từ Chúa Kitô mà đến". Đó là lí do tại sao Giáo hội có cơ cấu phẩm trật (a hierarchical structure), nhưng đồng thời, Chúa Kitô cũng cho Giáo hội có cơ cấu tập đoàn (collegial structure) nữa.

 

141. Đâu là nhiệm vụ của Đức Thánh cha (Pope)?

-  Như là đấng kế vị (successor) thánh Phêrô và là đầu của Tập đoàn giám mục (college of bishops), ĐTC là nguồn (source) và người bảo đảm (guarantor) của sự hợp nhất (unity) trong Giáo hội.

Ngài có quyền mục vụ cao nhất (the supreme pastoral authority) và quyền sau cùng (the final authority) trong những quyết định về tín lư và kỉ luật (in doctrinal and disciplinary decisions)   

 

142. Các giám mục có thể hành động và dạy dỗ những điều ngược với giáo hoàng, hay giáo hoàng ngược với giám mục không?

-  Giám mục không thể nói hay làm ngược với giáo hoàng, nhưng chỉ thuận với giáo hoàng. Ngược lại, giáo hoàng có thể có những quyết định làm sáng tỏ vấn đề, dù các giám mục không đồng ư.

 

143. Đức Thánh cha có ơn vô ngộ (really infallible-  không sai lầm) thực không?

-  Có. Nhưng Đức Thánh cha chỉ có ơn vô ngộ khi tuyên bố một cách long trọng từ ngai Ṭa (ex cathedra) những điều thuộc  tín lư (dogma).

Nói cách khác, khi Ngài làm những quyết định theo quyền trong những vấn đề thuộc đức tin và luân lư (faith and moral).

Những quyết định thẩm quyền của Tập đoàn giám mục  hợp nhất với Đức Thánh cha, cũng được ơn vô ngộ, ví dụ: các quyết định của Công đồng chung (Công đồng Vaticanô 2... ).

 

(ĐGH xác định những điều thuộc Tín lư. Những điều này không bao giờ mang bản chất mới (substantially "new". Rất hiếm những tín lư cần xác định. Lần chót vừa qua là năm 1950)

(Chúa Thánh Thần sẽ dẫn các con tới sự thật hoàn toàn Gioan 16,13)

 

144. Đâu là nhiệm vụ của các giám mục (Bishop) ?

-  Giám mục có nhiệm vụ tại Giáo hội địa phương (local Church) đă trao phó cho các ngài, và chia sẻ trách nhiệm trong toàn Giáo hội Công giáo. 

Giám mục  thi hành quyền trong sự hiệp thông với các giám mục khác, và cho lợi ích của Giáo hội hoàn cầu, dưới sự lănh đạo của Đức Giáo hoàng.

 

145. Tại sao Chúa Giêsu muốn có những Kitô hữu làm tu sĩ sống độc thân, nghèo khó, vâng phục?

-  Thiên Chúa là T́nh yêu, Người cũng muốn chúng ta yêu Người.  Một h́nh thức sống T́nh yêu cho Chúa là sống như Chúa Giêsu đă sống: độc thân, nghèo khó, vâng phục.

Những người sống trong t́nh trạng này, họ có trí, ḷng và đôi tay tự do (free) không vướng bận để phục vụ Thiên Chúa và tha nhân (neighbor).

 

( Marco 10,21 Chúa Giêsu đưa mắt nh́n người thanh niên  và đem ḷng yêu mến.

Người bảo anh ta, "Anh chỉ thiếu có một điều, hăy đi bán những ǵ anh có mà

     cho người nghèo,  anh sẽ được một kho tàng trên trời. Rồi hăy đến theo tôi.")

 

146. Khi nói "Các thánh cùng thông công" (communion of saints) nghĩa là ǵ?

-  Các thánh cùng thông công được đề ra cho mọi tín hữu đặt niềm hi vọng nơi Chúa Kitô, và thuộc về Người qua Bí tích Rửa tội, bất kể họ đă qua đời hay c̣n đang sống, v́ trong Chúa Kitô, họ là một thân ḿnh (Body).

Chúng ta sống trong sự hiệp thông  bao gồm (encompass) cả trời và đất.

 

(1Cr 12,26      Nếu một bộ phận nào đau, th́ mọi bộ phận cùng đau. Nếu một bộ phận nào được vẻ vang, th́ mọi bộ phận cũng vui chung).

 

(Đừng khóc, tôi sẽ giúp ích cho anh em hơn sau khi tôi chết, tôi sẽ giúp đỡ anh em hiệu quả hơn khi tôi c̣n sống. Th. Đaminh)

 

147. Tại sao Đức Mẹ Mẹ lại có một chỗ cao vượt (preeminent) trong mầu nhiệm "Các Thánh cùng Thông công" như thế?

-  Mẹ Maria là Mẹ Thiên Chúa, Mẹ đă hợp nhất với Chúa Giêsu khi c̣n ở dưới thế, không ai có sự hợp nhất và có thể hợp nhất như vậy, một sự hợp nhất sâu thẳm, vẫn không ngừng khi ở trên trời.

Đức Mẹ là Nữ vương Thiên đàng, và trong t́nh mẫu tử, Người chắc chắn rất gần gũi chúng ta.

 

148. Đức Mẹ có thực sự cứu giúp chúng ta không?

-  Có. Từ thời ban đầu của Giáo hội, kinh nghiệm đă cho biết, Đức Mẹ hằng cứu giúp chúng ta, triệu triệu Kitô hữu đă xác nhận điều này.

 

(Gioan 2,3 Khi thấy thiếu rượu, thân mẫu Chúa Giêsu nói với Người, "Họ hết rượu rồi.". Chúa Giêsu đáp, "Thưa bà, chuyện đó can ǵ đến bà và con? Giờ của con chưa đến." 2,5           Mẹ Người nói với gia nhân, "Người bảo ǵ, các anh cứ làm theo.")

 

149. Chúng ta có thờ kính Đức Mẹ (worship Mary) không?

-  Không, chúng ta chỉ thờ một ḿnh Thiên Chúa, nhưng chúng ta tôn kính (đặc biệt) Đức Mẹ, v́ Người là Mẹ Thiên Chúa chúng ta.

 

 

///Tôi tin phép tha tội

(the forgiveness of sins)

 

150. Giáo hội Công giáo có thực sự tha tội  (really forgive sins) không?

-  Có. Chúa Giêsu không những chính Người tha tội, mà Người c̣n ban cho Giáo hội sứ mạng và quyền  tha tội (mission and power to free man from their sins).

 

( Gioan 20,23 Anh em tha tội cho ai, th́ người ấy được tha;

 anh em cầm giữ ai, th́ người ấy bị cầm giữ.")

 

(Linh mục đă được nhận nơi Thiên Chúa quyền năng (power) mà Chúa đă không ban cho các thiên thần hay tổng thiên thần. Chúa ở trên trời cao xác nhận điều linh mục làm ở dưới thế. Th. Gioan Chrysostom)

 

151. Giáo hội có thể làm ǵ (possibility) ǵ trong việc tha tội?

-  Nền tảng việc tha tội ở trong Bí tích Rửa tội.

Sau Bí tích Rửa tội, Bí tích Ḥa giải (Thống hối, Giải tội) cần để tha các tội trọng (serious sins).

Khi mắc tội nhẹ ( less serious sins) chỉ khuyên xưng tội thôi.

Nhưng đọc Kinh Thánh, cầu nguyện, ăn chay, và làm các việc đạo đức khác  cũng có hiệu quả (effects) tha tội.

 

 

Tôi tin xác loài người ngày sau sống lại

(Resurrection of the dead)

 

152. Tại sao chúng ta tin xác chết sẽ sống lại?

-  V́ Chúa Giêsu đă chết, đă sống lại và sống măi măi, đó là điều ta sẽ được chia sẻ trong cuộc sống đời đời.

 

153. Tại sao ta tin "xác sẽ sống lại"?

-  Chúa Giêsu đă mang xác thể loài người để cứu chuộc loài người. Kinh Thánh dùng danh từ "thể xác" (flesh)  nói lên đặc tính xác là yếu đuối và hay chết (weakeness and mortality).

Nhưng Thiên Chúa đă không coi thể xác như cái ǵ thấp hèn (inferior). Không những Chúa cứu chuộc phần hồn mà cả phần xác.

 

(Gioan 1,14     Lời đă trở nên người phàm và tạm cư (tabernacle) giữa chúng ta).

 

154. Khi ta chết, xảy ra điều ǵ?

-   Khi ta chết, hồn ĺa (separate) xác, xác thối rữa (decay), hồn đi gặp Thiên Chúa, và chờ lại hợp nhất (reunite) với xác vào ngày tận thế (the last day).

 

(1Cr 15,35  Nhưng có người sẽ nói, kẻ chết chỗi dậy thế nào? Họ lấy thân thể nào mà trở về?.  Đồ ngốc! Ngươi gieo cái ǵ, cái ấy phải chết mới được sống.   Cái ngươi gieo không phải là h́nh thể sẽ mọc lên, nhưng là một hạt trơ trụi, chẳng hạn như hạt lúa hay một thứ nào khác). 

 

155. Nếu ta trông cậy (trust) Chúa Kitô, Chúa sẽ giúp ta thế nào vào lúc ta chết?

-  Chúa Kitô sẽ tới gặp ta và đưa ta vào cuộc sống đời đời (eternal life). Thánh Têrêsa Hài đồng nói: "Không phải cái chết, nhưng Thiên Chúa sẽ tới đón tôi".

 

( Rm 14,8 Chúng ta có sống là sống cho Chúa, mà có chết cũng là chết cho Chúa. Vậy, dù sống, dù chết, chúng ta vẫn thuộc về Chúa).

 

(Tôi muốn thấy Chúa, và để được thấy Người, tôi phải chết đi. Th. Têrêsa Avila)

 

(Tôi không đang chết, nhưng tôi đang bước sang sự sống. Th. Têrêsa Nhỏ) 

 

 

"Tôi tin hằng sống vậy"

(life Everlasting"

 

156. Sự sống vĩnh cửu (eternal life) là ǵ?

-  Sự Sống vĩnh cửu là Sự Sống tiếp tục sau khi chết và nó sẽ vô cùng tận (no end).

Sự Sống vĩnh cửu đă khởi đầu khi người ta lănh Bí tích Rửa tội.

 

( 2Pr 3,8 Anh em thân mến, một điều duy nhất, xin anh em đừng quên, đối với Chúa, một ngày ví thể ngàn năm, ngàn năm cũng tựa một ngày). 

 

157. Chúng ta có phải chịu xét xử sau khi chết không?

-  Gọi là xét xử riêng (particular or personal judgment) sẽ xẩy ra vào lúc người nào đó chết.

Sự xét xử chung (general or last judgment) sẽ diễn ra vào ngày Tận thế (Last day)

 

158. Thiên đàng (heaven) là ǵ?

-  Thiên đàng là thời bất tận (endless moment) của T́nh yêu.  Không c̣n chia ĺa (separate) ta với Chúa nữa. Đấng mà linh hồn ta yêu mến và t́m kiếm (sought) suốt cuộc sống lâu dài.

Cùng với các thiên thần và các thánh (angels and saints), ta được vui mừng (rejoice) đời đời trong và với (in and with) Thiên Chúa.

 

(1 Cr 13,12     Bây giờ chúng ta thấy lờ mờ như trong một tấm gương,

 mai sau sẽ được mặt giáp mặt.

 Bây giờ tôi biết chỉ có ngần có hạn,

 mai sau tôi sẽ được biết hết, như Thiên Chúa biết tôi). 

 

159. Luyện ngục (Purgatory)?

-  Luyên ngục, thường được tưởng là một nơi, thực ra là một t́nh trạng (condition). Người ta chết trong ơn nghĩa Chúa (God's grace) (trong b́nh an với Chúa và con người), nhưng họ c̣n cần tẩy luyện (purification) trong Luyện ngục, trước khi họ được xem thấy Chúa mặt đối mặt (face to face).

 

(1 Cr 3,13       Nhưng công việc của mỗi người sẽ được phơi bày ra ánh sáng. Thật thế, Ngày của Chúa sẽ cho thấy công việc đó, v́ Ngày ấy tỏ rạng trong lửa; chính lửa này sẽ thử nghiệm giá trị công việc của mỗi người).

 

(2 Mcb 12,45 V́ thế ông Giuda Macabê đă làm việc đền tội cho người đă chết, để họ được tha thứ tội lỗi)

 

160. Chúng ta có thể giúp (help) được người ở trong Luyện ngục không?

-  Có. V́ ta đă được Rửa tội trong Chúa Kitô, đă "thông công" (communion) với nhau, hợp nhất với nhau, người sống có thể giúp đỡ các linh hồn trong Luyện ngục được lắm.

 

(Khi người ta đă chết, người ta không c̣n làm ǵ được cho ḿnh. Thời gian thử luyện (probation) đă qua.

Nhưng người sống chúng ta có thể giúp những tín hữu đă qua đời trong chốn luyện ngục. T́nh yêu của chúng ta vươn dài tới đời sau.

Qua ăn chay, cầu nguyện, làm việc lành, nhất là nhờ Thánh lễ Misa, chúng ta có thể lănh ơn phúc cho các linh hồn đă qua đời).

  

(Ta đừng ngần ngại giúp những ai đă chết, hăy dâng những lời cầu nguyện cho họ. th Gioan Chrysostom)

 

(Vào buổi chiều của cuộc sống, chúng ta sẽ bị phán xét về T́nh yêu (Th. Gioan thánh giá)

 

161. Hỏa ngục (hell) là ǵ?

-  Hỏa ngục là t́nh trạng chia ĺa đời đời với Thiên Chúa (the condition of everlasting separation from God), sự tuyệt đối thiếu vắng T́nh yêu (the absolute absence of love).

 

(Marco 9,43 Nếu tay anh làm cớ cho anh sa ngă, th́ chặt nó đi;

     thà cụt một tay mà được vào cơi sống, c̣n hơn là có đủ hai tay mà phải sa hoả ngục, phải vào lửa  không hề tắt).

 

162. Nếu Thiên Chúa là T́nh yêu th́ sao lại có Hỏa ngục ?

-  Thiên Chúa không nguyền rủa (damn) con người.

Chính con người là kẻ từ chối (refuse) T́nh yêu Thương xót của Chúa (God's merciful love) và tự t́nh từ chối ḿnh không cho ḿnh Sự Sống đời đời, loại ḿnh ra khỏi sự thông hiệp với Thiên Chúa.  (voluntarily deprives himself of eternal life by excluding himself from communion with God).

 

(2 Pr  3,9 Chúa không chậm trễ thực hiện lời hứa, như có kẻ cho là Người chậm trễ. Kỳ thực, Người kiên nhẫn đối với anh em, v́ Người không muốn cho ai phải diệt vong, nhưng muốn cho mọi người đi tới chỗ ăn năn hối cải). 

 

(1Tm 2,4 Chúa muốn cho mọi người được cứu độ và nhận biết chân lư). 

 

(Mt 25,31 Khi Con Người đến trong vinh quang của Người, có tất cả các thiên sứ theo hầu, bấy giờ Người sẽ ngự lên ngai vinh hiển của Người.

Các dân thiên hạ sẽ được tập hợp trước mặt Người, và Người sẽ tách biệt họ với nhau, như mục tử tách biệt chiên với dê.

Người sẽ cho chiên đứng bên phải Người, c̣n dê ở bên trái...

25,46   Thế là họ sẽ ra đi, bọn này để chịu cực h́nh muôn kiếp, c̣n những người công chính, để hưởng sự sống muôn đời").

 

163. Sự xét xử cuối cùng (last judgment-  phán xét chung) là ǵ?

-  Phán xét cuối cùng sẽ diễn ra vào lúc kết thúc thế giới (the end of the world), lúc Chúa Kitô đến lần thứ hai. "Mọi kẻ ở trong mồ sẽ nghe tiếng Người và bước ra. Những kẻ đă làm việc lành, sẽ sống lại để hưởng Sự Sống đời đời.  Những kẻ đă làm ác, sẽ sống lại để chịu phán xét" (Ga 5,29).

 

(2 Pr 3,13 Nhưng, theo lời Thiên Chúa hứa, chúng ta mong đợi trời mới đất mới, nơi công lư ngự trị). 

 

164. Thế giới sẽ tận cùng (come to an end)thế nào?

-  Vào khi ngày giờ đă hết, Thiên Chúa sẽ làm nên trời mới đất mới. ự dữ sẽ không cờn quyền lực (power) hay quyến rũ (attractiveness) nữa. Những ai được cứu rỗi sẽ đứng trước mặt Chúa như bạn hữu của Người.  Niềm ước mong b́nh an và công bằng (peace and justice) sẽ được thỏa măn. Người vâng ư Chúa sẽ được chúc phúc. Chúa Ba Ngôi sẽ ở giữa họ, sẽ lau khô những giọt nước mắt của họ. Sẽ không c̣n chết, đau thương, than khóc, hoặc lo buồn nữa.

 

165. Tại sao chúng ta nói "Amen" vào cuối kinh Tin kính?

-  Amen nghĩa là chấp nhận những điều đức tin, v́ Chúa muốn ta làm nhân chứng (witness) đức tin. Ai nói Amen là tự ư và vui ḷng với công việc tạo dựng và cứu chuộc (creation and redemption) của Thiên Chúa. 

 

(2 Cr 1,20       Quả thật, mọi lời hứa của Thiên Chúa đều là "có" nơi Người. V́ thế, cũng nhờ Người mà chúng ta hô lên "Amen" để tôn vinh Thiên Chúa).

 

 

///CỘT HAI

NHỮNG ĐIỀU NHẬN LĂNH

(7 BÍ TÍCH)

-----

CHÚNG TA CỬ HÀNH CÁC MẦU NHIỆM KITÔ GIÁO THẾ NÀO? (166- 278)

----------------------

 

166. Tại sao  Giáo hội thường cử hành phụng vụ (celebrate the liturgy)?

-  Người dân Israel nghỉ việc "mỗi ngày 7 lần" (Tv 119, 164) để ngợi khen (praise) Thiên Chúa.

Chúa Giêsu đă tham dự (paticipate) phụng vụ  và cầu nguyện với dân chúng, Người dạy các môn đệ của Người cầu nguyện và tập họp họ nơi Lầu trên (Upper room) để cùng cử hành Bữa Tiệc ly. Giáo hội vâng lệnh Chúa, kêu gọi chúng ta tham dự Thánh lễ (phụng vụ trên các phụng vụ): "Hăy làm việc này mà nhớ đến Thầy" ( 1 Cr 12, 24)

 

167. Phụng vụ (Liturgy) là ǵ?

-  Phụng vụ là việc thờ phượng thần linh cách chính thức của Giáo hội (official divine worship of the Church).

 

(Luca 6,19      Tất cả đám đông t́m cách sờ vào Người, v́ có một năng lực tự nơi Người phát ra, chữa lành hết mọi người).

 

168. Tại sao phụng vụ lại ưu tiên (priority) trong đời sống Giáo hội và cá nhân?

-  V́ phụng vụ là chóp đỉnh (summit) mà các hoạt động của Giáo hội hướng về đó. Phụng vụ cũng là nguồn suối (font) trào ra các sức mạnh (power) (Vat. 2, HcPv 10)

 

(Saturniô "Kitô hữu tồn tại nhờ Thánh Thể, Thánh Thể tồn tại v́ Kitô hữu")

 

169. Khi chúng ta cử hành phụng vụ, điều ǵ đă xảy ra cho chúng ta ?

-   Chúng ta được lôi kéo đến T́nh yêu Chúa, được chữa lành (healed), được biến đổi (transformed).

 

(Luca 15,20    Thế rồi anh ta đứng lên, đi về cùng cha.

 "Anh ta c̣n ở đàng xa, th́ người cha đă trông thấy. Ông chạnh ḷng thương, chạy ra ôm cổ anh ta và hôn lấy hôn để).

 

Chương 1

Thiên Chúa và phụng vụ thánh

 

170. Nguồn gốc rất sâu xa (most profound origine) của phụng vụ là ǵ?

-  Đó là chính Thiên Chúa. Trong Người có bữa Tiệc T́nh yêu đời đời trên Thiên đàng, Niềm vui của Cha - Con - Thánh Thần.

V́ Thiên Chúa là T́nh yêu, nên Người muốn chúng ta dự phần vào bữa tiệc vui vẻ của Người và ban cho chúng ta phước lành của Người.

 

171. Điểm chính yếu (essense) của mọi phụng vụ là ǵ?

-  Chỗ nhất của phụng vụ luôn luôn là sự hiệp thông (communion) hay t́nh bạn (fellowship) với Chúa Giêsu Kitô.

Mọi phụng vụ, không kể cử hành Thánh Thể, đều là lễ Phục sinh thu nhỏ (miniature). Chúa Giêsu reveals his passage từ sự chết đến cuộc sống và cử hành (celebrate với chúng ta.  

 

(Xuất hành 12,12 Đêm ấy Ta sẽ rảo khắp đất Aicập, sẽ sát hại các con đầu ḷng trong đất Aicập, từ loài người cho đến loài thú vật, và sẽ trị tội chư thần Aicập: v́ Ta là ĐỨC CHÚA.13 C̣n vết máu trên nhà các ngươi sẽ là dấu hiệu cho biết có các ngươi ở đó. Thấy máu, Ta sẽ vượt qua, và các ngươi sẽ không bị tai ương tiêu diệt khi Ta giáng hoạ trên đất Aicập).