II.PHỤNG VỤ LỜI CHÚA

 

(Phần này gồm bài đọc 1, Đáp ca, bài đọc 2, Alleluia, bài Tin mừng, bài giảng, kinh Tin kính và Lời nguyện giáo dân)

 

Lịch sử:

Trong năm thế kỷ đầu của Giáo hội, phụng vụ Lời Chúa và phụng vụ Thánh Thể cử hành độc lập với nhau, ngày nay, phụng vụ Lời Chúa được coi như phần thứ nhất của Thánh Lễ. Phụng vụ Lời Chúa nói lên Thiên Chúa hiện diện nơi dân Người, Thiên Chúa nói với dân Người, dạy dỗ dân Người về ơn cứu độ qua Lời Người và qua bài giảng của chủ tế.

Thánh Giustinô viết: "Khi giáo dân đă tụ hfdỏ lại, người ta đọc bút kư Các Tông đồ hay các sách Ngôn sứ, tùy thời giờ cho phép".

 

Qui chế:

21. Cộng đoàn giáo dân ngồi.

9. Qua Lời Kinh Thánh đọc trong Giáo hội, chính Thiên Chúa nói với dân Người, và Đức Kitô hiện diện trong Lời của ḿnh, Lời loan báo Tin Mừng.

33. Các bài rút ở Kinh Thánh, cùng với các bài hát xen kẽ, tạo nên phần chính của phụng vụ Lời Chúa, c̣n bài diễn giảng, kinh Tin kính và lời nguyện giáo dân khai triển và kết thúc phần này.

Qua các bài đọc, được bài giảng giải thích, Thiên Chúa nói với dân Người. Người mặc khải mầu nhiệm cứu chuộc và ơn cứu độ, đồng thời cung cấp lương thực thiêng liêng, chính Đức Kitô dùng Lời của ḿnh hiện diện giữa các tín hữu.

Nhờ các bài hát, lời tuyên xưng đức tin, dân Chúa đáp lời Chúa, họ nguyện xin cho các nhu cầu của Giáo hội và thế giới được cứu độ.

34. Theo truyền thống, việc đọc các bài đọc dành cho giáo dân, độc viên sẽ đọc bài đọc, nhưng bài Phúc âm dành cho linh mục hoặc phó tế.

318. Ba bài đọc được chỉ định cho ngày Chúa nhật và lễ trọng: một bài Cựu ước, một bài Tân ước và một bài Tin mừng. Nhờ đó dân Chúa được giáo dục về tính cách liên tục của chương tŕnh cứu độ, theo sự xếp đặt lạ lùng của Thiên Chúa.

 

9. BÀI ĐỌC MỘT

Lịch sử:

Thánh Augustinô cho biết: Ngay từ thời của người (năm 354-430) đă dùng các bài trích sách Tông đồ Công vụ để đọc trong mùa Phục sinh.

Những bài này nói lên tính cách chứng tá của giáo dân thời đầu sống Lời Chúa trong cuộc sống hằng ngày. Các tuần lễ c̣n lại trong năm, th́ dùng bài trích Kinh Thánh Cựu ước.

 

Qui chế:

89. Dứt lời nguyện nhập lễ, độc viên tới giảng đài và đọc bài đọc thứ nhất, mọi người ngồi nghe và đến cuối th́ tung hô.

 

10. ĐÁP CA

Lịch sử:

Sau khi ăn bữa tối, Chúa Giêsu và các môn đệ đă hát thánh vịnh.

Các tín hữu ban đầu cũng hay hát thánh vịnh. Thánh Phaolô và Giacôbê khuyến khích hát thánh vịnh (Ep 5, 18-19; Gc 5,13)

Sau Công đồng Nicea (năm 325), giáo dân thích hát Thánh vịnh, trẻ em học thuộc ḷng Thánh vịnh, nhà giảng thuyết thường trích lời Thánh vịnh.

 

Qui chế:

36 và 90. Sau bài đọc thứ nhất tới Thánh vịnh đáp ca. Thánh vịnh đă ghi sẵn trong sách Bài đọc. Tuy nhiên để dân chúng có thể hát Thánh vịnh đáp ca dễ dàng hơn, một số thánh vịnh được chọn theo mùa phụng vụ trong năm.

Người hát thánh vịnh hát tại giảng đài, hay tại một nơi thuận tiện. Cộng đoàn ngồi nghe và đáp lại bằng những câu đáp, trừ khi thánh vịnh được hát liên tục không có câu đáp.

 

11. BÀI ĐỌC 2

Lịch sử:

Thời trước, thường chỉ có một bài đọc Cựu ước hoặc bài trích trong sách Khải huyền của thánh Gioan Tông đồ.

Tới năm 1969,  bài đọc 2  được chỉ định rơ ràng trong sách Bài đọc theo canh tân của Công đồng Vatican 2.

 

Qui chế:

91. Nếu có bài đọc thứ hai trước bài Tin mừng, th́ độc viên cũng đọc tại giảng đài. Mọi người ngồi nghe và đến cuối th́ tung hô.

 

12. ALLELUIA

Lịch sử:

Nhiều thánh vịnh dùng lời Alleluia như tiếng reo vui mừng, Alleluia có nghĩa là Ngợi khen Chúa.

Vào thời thánh Augustinô  bên Phi châu, giáo dân hát Alleliua các ngày Chúa nhật.

Tới thế kỷ thứ 6, nghi lễ Roma cho hát Alleluia vào mùa Phục sinh. Đức Giáo hoàng Gregoriô Cả (năm 590-604) cho phép hát các mùa khác.

Đến thời Trung cổ, nghi lễ xác định không hát Alleluia 3 Chúa nhật trước lễ Tro, không hát trong lễ cầu hồn.

 

Qui chế:

21. Giáo dân đứng.

37. Sau bài đọc 2 là bài Alleluia, hay bài khác như phụng vụ đ̣i hỏi. Mùa Chay không hát Alleluia.

Hết mọi người, hoặc ca đoàn hay ca viên bắt đầu hát, nếu cần th́ lặp lại. Lời tung hô th́ lấy ở sách bài đọc.

38. Khi chỉ có một bài đọc trước Tin mừng. Nếu là mùa được hát Alleluia, sẽ hát Alleluia với thánh vịnh tung hô, hoặc chỉ hát thánh vịnh tung hô, hoặc chỉ hát Alleluia.

Nếu là mùa Chay, chỉ hát hoặc đọc thánh vịnh tung hô mà thôi.

 

13. BÀI TIN MỪNG (PHÚC ÂM)

Lịch sử:

Phúc âm là Tin mừng cứu rỗi, thuật lại sự chết và sự sống lại của Chúa.

Chỉ có linh mục hoặc phó tế đọc bài Phúc âm cho dân chúng.

Trước thời Trung cổ, sách Phúc âm được tôn kính bằng cách trang trí đặc biệt từ b́a sách, chữ viết, khổ sách.

Tới thời Trung cổ, sách Tin mừng được in ra theo khuôn mẫu giống nhau.

Thời trước, sách Phúc âm được rước ra bàn thờ, sau lễ cất giữ cẩn thận. Trước khi đọc: linh mục, phó tế phải xin ơn đọc cách xứng đáng. Phó tế xin phép lành của chủ tế. Điều này có từ thế kỷ thứ 7 tại Roma.

Nến và hương:  Năm 371, thánh Giêrônimô miêu tả bên Đông phương có thói quen cầm nến khi đọc Phúc âm để chỉ sự vui mừng. Nến và hương đều là dấu hiệu kính trọng Lời Chúa.

Đứng: Từ thời xa xưa, giáo dân đă đứng nghe Lời Chúa. Thói quen này có ở bên Đông từ thế kỷ 4 và ở bên Tây từ thế kỷ 5.

Tung hô: Những lời tung hô hướng thẳng về Chúa Kitô, đă có từ thế kỷ thứ 8 thời hoàng đế Charlemagne.

Dấu Thánh giá: Bắt đầu từ giữa thế kỷ thứ 9 và 11.

Hôn sách Phúc âm:  Có từ thế kỷ thứ 8 tại Roma.

Sau bài Phúc âm, sách được các giáo sĩ hôn. Tới thế kỷ 13, mọi giáo dân đều được hôn sách, nhưng thói này đă biến dần, rồi chỉ c̣n Đức Giám mục hoặc linh mục chủ tế hôn sách mà thôi.

 

Qui chế:

21. Giáo dân đứng.

35. Chính phụng vụ dạy ta phải hết ḷng tôn kính bài Tin Mừng, v́ phụng vụ đề cao bài Tin Mừng hơn các bài đọc khác.

- Phần về phía thừa tác viên đọc bài này, phải xin phép lành từ chủ tế, hay lời cầu nguyện để được xứng đáng công bố Lời Chúa.

- Phần về phía giáo dân th́ tung hô để tuyên xưng Đức Kitô đang hiện diện và nói với họ, họ đứng để nghe Tin mừng.

- Phần th́ do những dấu tỏ ḷng trọng kính đối với sách Tin mừng (hôn sách, xông hương).

93. Nếu có xông hương Tin mừng, linh mục sẽ bỏ hương vào b́nh khi ca đoàn hát Alleluia. Rồi linh mục cúi ḿnh chắp tay trước bàn thờ cầu nguyện thầm,  xin ơn thanh tẩy tâm hồn để đáng công bố Lời Chúa.

94. Linh mục cầm sách Tin mừng (nếu đang để trên bàn thờ) đưa tới giảng đài. Người cầm hương đi trước.

95. Tại giảng đài, linh mục chào cộng đoàn, rồi làm dấu Thánh giá trên sách, trên ḿnh (nơi trán, miệng và ngực). Rồi xông hương sách Tin mừng, sau khi giáo dân tung hô. Khi đọc xong, linh mục hôn sách và đọc thầm: Nhờ những lời Phúc âm vừa đọc, xin Chúa xóa tội con.

 

14. BÀI GIẢNG

Lịch sử:

Bài giảng trong lễ là một phần di sản mà Giáo hội tiếp nhận từ đạo Do thái. Vào thời của Chúa, ngày Sabbat người Do thái hfdỏ lại để nghe sách Luật và Tiên tri , sau đó là những lời dẫn giải.

Chúa Giêsu và các tông đồ, nhất là thánh Phaolô cũng đă diễn giảng như vậy trong hội đường. Vào  thời Giáo hội ban đầu, diễn giảng sau bài Phúc âm là việc của Đức Giám mục. Thánh Giustinô viết trong cuốn Biện giáo: "Khi người ta đọc sách xong, vị chủ tọa nói đôi lời chỉ dẫn và khuyến khích mọi người sống theo những điều tốt lành vừa nghe".

Tới thế kỷ 3, việc giảng sau Phúc âm được chỉ định cho linh mục chủ tế. Đă có thời kỳ, bài giảng bị coi thường, nhưng ngày nay ta vẫn c̣n t́m được nhiều bài giảng rất giá trị của các Giáo phụ để lại.Tới thời Trung cổ, bài giảng sau Phúc âm được phục hồi mạnh mẽ, các nhà giảng thuyết c̣n giảng cả ngoài Thánh Lễ trong những dịp thuận tiện.

 

Qui chế:

21. Giáo dân ngồi nghe giảng.

41. Bài diễn giảng là thành phần của phụng vụ và rất được khuyến khích, v́ cần thiết để nuôi dưỡng đời sống Kitô hữu. Bài này phải diễn giải một khía cạnh nào của các bài đọc Kinh Thánh, hoặc một bản văn khác thuộc phần chung hay phần riêng của Thánh Lễ ngày hôm đó, đồng thời lưu ư đến mầu nhiệm được kính nhớ, hay nhu cầu riêng của thính giả.

42. Ngày Chúa nhật và lễ buộc, khi có đông giáo dân tham dự, chủ tế không được bỏ bài giảng, trừ khi có lư do quan trọng. Các ngày khác, nhất là ngày trong tuần mùa Vọng, mùa Chay, mùa Phục sinh, trong các dịp có đông giáo dân, linh mục nên giảng.

97. Linh mục có thể giảng tại ghế hay tại giảng đài.

 

15. KINH TIN KÍNH

Lịch sử:

Lời tuyên xưng đức tin trong kinh Tin kính như là lời đáp của các bài đọc và bài giảng, cũng như lặp lại lời tuyên xưng khi lănh Bí tích Rửa tội. Kinh Tin kính đọc trong Thánh Lễ gọi là kinh Tin kính Nicea, kinh này được t́m thấy trong giáo huấn cho Dự ṭng của thánh Cyrilô thành Giêrusalem vào quăng năm 350.

Năm 451, Công đồng Calcedon đă tóm những điều phải tin từ Công đồng Nicea và Constantinôpôli để có kinh Tin kính ta dùng trong Thánh Lễ ngày nay.

Kinh Tin kính được đưa vào Thánh Lễ từ thế kỷ thứ 6 tại Constantinôpôli, rồi lan dần qua bên Đông phương.

Cuối thế kỷ 6, kinh Tin kính được dùng tại Tây ban nha qua ảnh hưởng nghi lễ Byzantin.

Cuối thế kỷ 8, kinh Tin kính được đưa vào Giáo hội Pháp và lan truyền ra Âu châu.

Năm 1014, Đức Giáo hoàng Rôma mới đưa kinh Tin Kính vào Thánh Lễ Chúa nhật, lễ Trọng.

Cử chỉ qú gối khi đọc tới "Bởi quyền năng Chúa Thánh Thần, chỉ được xác định từ cuối thế kỷ 11.

 

Qui chế:

21. Giáo dân đứng.

43. Kinh Tin kính cũng gọi là lời tuyên xưng đức tin, nhằm làm cho giáo dân chấp nhận và đáp lại Lời Chúa, mà họ đă nghe trong các bài đọc và bài giảng, đồng thời nhắc cho họ đức tin trước khi cử hành phụng vụ Thánh Thể.

44. Trong các Chúa nhật, lễ trọng và ít dịp khá trọng thể, linh mục và cộng đồng cùng đọc kinh Tin Kính, nếu hát th́ mọi người cùng hát hoặc hát luân phiên.

98. Khi đọc tới câu: Bởi quyền năng Chúa Thánh Thần mà Người xuống thai...mọi người đều cúi ḿnh, nhưng trong lễ Truyền tin và lễ Giáng sinh th́ mọi người qùi gối.

 

16. LỜI NGUYỆN GIÁO DÂN

Lịch sử:

Giáo hội luôn muốn con cái ḿnh cầu nguyện cho thế giới, v́ noi gương Chúa Giêsu, Giáo hội luôn cầu cho thế giới hưởng ơn cứu độ.

Thánh Giustinô cho biết, quăng năm 150, theo nghi lễ thời của người: "Sau khi nghe vị chủ lễ nói ít lời, tất cả chúng tôi cùng đứng lên và dâng lời cầu nguyện".

Giáo dân cầu nguyện cho chính ḿnh, cho các tân ṭng, và cho mọi người trên thế giới. Và chỉ những ai đă được rửa tội mới được tham dự việc cầu nguyện này.

Tại Rôma, giáo dân có thói quen cầu nguyện vào quăng sau năm 200.

Theo thánh Cyprianô và Augustinô, th́ cả bên Đông và bên Tây đều có thói quen đọc lời nguyện giáo dân sau bài giảng. Cộng đoàn hướng về hướng đông hướng mặt trời mọc, họ giơ tay cầu nguyện. Đức Giám mục mời mọi người cầu nguyện, người mở đầu và họ thưa lại.

Vào khoảng năm 400, phó tế lên tiếng mời giáo dân. Những lời cầu được đọc giống như kinh cầu, giáo dân thưa lại một câu đáp giống nhau, chủ tế đọc phần sau hết của kinh cầu.

Tại Rôma, vào thế kỷ 3, một h́nh thức cầu nguyện long trọng hơn, và ngày nay vẫn c̣n thực hành vào ngày thứ Sáu Tuần thánh.

Vào thời Trung cổ, phát hiện nhiều bản mẫu cầu nguyện, nói tới nhiều nhu cầu, có bản lặp lại cả lời cầu trong thánh vịnh.

Vào năm 1963, Công đồng Vatican 2 cho  tái lập lời nguyện giáo dân để cầu cho những nhu cầu chung của Giáo hội và thế giới.

 

Qui chế:

21. Giáo dân đứng.

45. Trong Lời nguyện cầu cho mọi người, cũng gọi là lời nguyện giáo dân, chính dân Chúa thực hiện chức vụ tư tế của ḿnh, mà cầu cho hết mọi người. Lời nguyện này nên cử hành trong các Thánh Lễ khi có giáo dân tham dự để họ cầu cho Hội thánh, cho các nhà cầm quyền, cho những người đang gặp đủ thứ khó khăn, cho hết mọi người và cho toàn thế giới được ơn cứu độ.

46. Những ư nguyện đó thường là:

            a- Cho các nhu cầu của Hội thánh,

            b- Cho các người trong chính quyền và cho toàn thể thế giới được ơn cứu độ,

            c- Cho những người đang gặp bất cứ khó khăn nào,

            d- Cho cộng đoàn địa phương.

Nhưng trong một buổi cử hành đặc biệt nào đó như Rửa tội, Thêm sức, hôn phối, an táng...th́ thứ tự cầu nguyện có thể dành ưu tiên cho trường hợp đặc biệt đó.

47. Chính linh mục chủ tế điều khiển việc cầu nguyện, người vắn tắt mời tín hữu cầu nguyện và đọc lời nguyện để kết thúc. Nên có một thày phó tế, một ca viên hay một người nào khác xướng các ư nguyện. C̣n toàn thể cộng đoàn biểu lộ lời nguyện của ḿnh, hoặc bằng những lời kêu cầu chung sau mỗi ư nguyện được xướng lên, hoặc bằng cách cầu nguyện trong thinh lặng.