4- Người coi vườn (tr 37)

(Cậy nhờ Thánh Cả trông coi vườn ngô bắp khỏi bị trộm )

Đồng quê duyên hải miền Bắc Viết Nam nói chung là

nghèo, v́ đất hẹp mà người đông, nhất là ở tỉnh

Thái B́nh. Những năm mùa màng thất bát, dân cư một

số người phải xiêu bạt tha phương; ai ở lại bám lấy lũy

tre làng th́ thường lâm cơ cận và bị nạn trộm cướp khổ sở.

Tại một giáo xứ nọ thuộc tỉnh Thái B́nh, vào

những năm đầu của thập niên 40, có gia đ́nh một giáo

hữu nghèo, người trong xứ quen gọi là gia đ́nh ông Quản.

Ông Quản tuổi chừng ngoài bốn mươi, người hiền

lành chất phác; nhưng việc giữ đạo xem ra cũng không

được siêng năng lắm: một phần cũng v́ phải đầu tắt mặt

tối ngày đêm, để lo cái thực mà vực cái đạo, theo lời dân

quê thường nói. Ông có bốn người con trai, mà duy

người con cả là có thể giúp ông được chút việc đồng áng

th́ lại theo chúng bạn đi tập nghề thợ nề ở xa. Gia tài

ông chi có chừng hai sào ruộng (mỗi sào 360 mét vuông),

đất dở cao dở thấp, cấy lúa th́ thiếu nước mà trồng màu

th́ lại hơi trũng. Hai ông bà và ba người con trai chỉ

trông vào có miếng đất nhỏ ấy để mưu hộ khẩu độ nhật.

Hồi đó, người Nhật đang ngang dọc ở Đông Dương.

Nhiều nơi trong tĩnh Thái B́nh, ruộng đất đă cấy

lúa hay trồng mầu rồi, cũng bị họ bắt phá đi để trồng đay

cho họ dùng vào kỹ nghệ. Vùng ông Quản ở chưa bị rơi

vào cái nạn ấy. Nhưng ai cũng lo sợ phải là nạn nhân

trồng đay cho Nhật, thành ra việc trồng cấy thường chậm

lại không đúng vào thời tiết canh nông ở miền Bắc: nhỡ

ra trồng cấy rồi mà bị phá bỏ th́ mất hết vốn liếng và

công lao khó nhọc. Hai sào đất nhỏ của ông Quản cũng

sa vào t́nh trạng ấy .

Song chả nhẽ cứ ngồi đấy mà đợi đất trổ lúa trổ ngô.

Ông quản cũng đánh liều với số phận người dân bị

trị, rồi ra sao th́ ra. Năm 1942, ông trồng ngô (bắp) hai

sào đất sở hữu. Nhờ sức cố gắng của ông bà, vườn ngô

lên mơn mởn, hứa hẹn một mùa thu hoạch ngon lành.

Một bất lợi cho ông bà là chỉ có một ḿnh ông trồng bắp,

c̣n các ruộng của người ta chung quanh th́ hoặc trồng

khoai lang hoặc cấy lúa. Mảnh ngô của ông v́ thế mà là

mục tiêu thường xuyên của bọn ăn sương khi hạt vừa

đông sữa. Ông Quản cũng biết thế, nên ông đă cố công bớt

ngủ để đêm đêm xách đèn ra canh pḥng ngoài ruộng.

Nhưng sức ông có hạn mà bọn trộm cắp th́ lại khôn mưu.

Đêm nào thấy ông canh coi, chúng về nhà nằm tréo

khoeo mà ngủ, thành ra ruộng ngô của ông Quản vẫn kết

quả đều đều. Khi ngô đă có thể bẻ được th́ ông đă mệt

nhoài v́ thiếu ngủ. Vả nữa, những đêm đi canh coi, ông

chẳng gặp một kẻ trộm nào đến thăm. V́ hiền lành nên

ông cũng ngỡ là chẳng ai nỡ phạm đến công lao mồ hôi

nước mắt của ông. Họ cũng c̣n có t́nh thương kẻ nghèo

như ông chứ. Và ông tạm ngưng việc canh đêm để dưỡng sức.

 

Không nói th́ ta cũng biết là vườn ngô của ông

Quản bị mất trộm. Trộm đă bẻ mất gần một sào ngô của

ông ngay vào đêm thứ hai ông không ra kiểm soát. Ông

chỉ buồn chứ không tức giận. Và tất nhiên là phần ngô

c̣n lại, ông phải vội bẻ lúc chưa già hẳn. Bẻ như vậy đối

với người dân quê thật là vất đi. Phần đông họ chỉ dùng

ngô hạt già để bung, để độn cơm, chứ nghèo th́ làm ǵ có

mà nấu chè ngô hay luộc ngô non ăn chơi.

Đương đầu với gian nan, ông Quản không nói không rằng.

Ông vui ḷng chấp nhận số phận của ḿnh,

chẳng dám trách mắng ai. Và ông cũng nhận ra sự bất

lực của ḿnh. Từ chỗ nhận ra sự bất lực đó, ông nghĩ đến

việc phải t́m một vị thánh nào đó để trao phó gia sản và

mồ hôi nước mắt ông. Ông không dám nghĩ đến Chúa và

Đức Mẹ, mà chỉ nghĩ đến một vị thánh nào đó thôi. Một

đêm nọ, ông cố nhẩm lại kinh cầu các thánh xem có vị

nào ông dám cậy nhờ không. Ông dừng lại nơi Thánh

Giuse. À, phải rồi, Thánh Giuse vừa có kinh đọc mà lại

vừa là bổn mạng ông. Nghĩ đến kinh đọc, ông nhẩm lại

kinh cầu Thánh Cả. Nhẩm tới câu: "Thánh Giuse là

Đấng mọi nhà phải cậy nhờ cho được vững vàng", ông

giật ḿnh. Th́ ra đây mà sao từ trước ông không nghĩ

đến: mọi nhà phải cậy nhờ chứ có phải riêng cho nhà nào

đâu ông hắng giọng gọi sang giường vợ mà hỏi:

- Này, nhà này, có mẫu ảnh ông Thánh Giuse nào

không, hử?

Vừa mới chợp ngủ, bị gọi giật dậy, bà càu nhàu:

- Ǵ mà đang đêm hôm thế này, lại hỏi ảnh với

tượng? Nhà mê ngủ đấy à?

- Không, đang thức đây. Ta nghĩ rồi: phải trao cái

ruộng ngô cho ông Thánh Giuse coi sóc mới được.

- Ông chỉ nói dại! Thánh nào lại đi coi ngô cho ḿnh?

- Thế nhà không đọc kinh cầu à? "Ông Thánh

Giuse là Đấng mọi nhà phải cậy nhờ cho được vững

vàng" là ǵ đấy! Ḿnh cậy nhờ ông Thánh cho được

vững vàng, chứ có bắt ông Thánh làm tuần định cho

ḿnh đâu mà nói dại.

Nhưng vợ ông cũng chẳng có mẫu ảnh nào như ông mong.

Thôi th́ tỏ ra ḷng trông cậy theo cách của

con nhà nghèo vậy. Ông t́m đến nhà một cậu học tṛ,

năn nỉ xin cậu một mảnh giấy nhỏ và nhờ cậu viết hộ

câu: Ông Thánh Giuse là Đấng mọi nhà phải cậy nhờ

cho được vững vàng - cầu cho chúng tôi", rồi đem dán ở

dưới ảnh Trái Tim Chúa trên bàn thờ gia đ́nh. Ông nói:

để khi đi qua đi lại trông thấy th́ đọc mà cầu xin Thánh

Giuse coi sóc cho ḿnh (ông Quản chỉ biết đọc chứ

không biết viết).

Mùa ngô năm sau, ruộng ngô của ông c̣n tốt hơn

năm trước. Khi ngô trổ bắp, mỗi buổi tối ông đều cầm

đèn đi ṿng quanh ruộng ngô một lượt, vừa đi vừa đọc

kinh cầu ông Thánh Giuse, rồi về nhà ngủ cho đến sáng,

phó thác vườn ngô cho ông Thánh. Khi ngô già, gia đ́nh

ông vui vẻ thu hoạch. Kết quả thập phần mĩ măn.

 

Tới ngày phiên chợ, ông bà gánh ngô đi bán.

ông quyết định trích một số tiền mua bao nến đem đến

nhà thờ tạ ơn Thánh Cả Giuse. Trên đường tới chợ, ông

gặp lăo T người bên lương trong xă. Lăo hất hàm hỏi

thăm.

- Ông Quân năm nay mạnh khoẻ nhỉ! mấy tháng

nay, đêm nào cũng thức canh ngô suốt đêm mà không

mệt à?

ông Quản rất sửng sốt. Nhưng rồi ông cũng đoán

ra là ai đă coi ngô cho ông. Thật không ngờ! Thế mà vợ

ông lại bảo ông nói dại!

Truyện trên đây tôi viết theo lời kể của thân phụ

tôi trong một buổi tối sau khi gia đ́nh đă làm việc Kính

Thánh Cả Giuse nhân tháng kính người. Thân phụ tôi

quả quyết là đă nghe chính miệng ông Quản kể lại. Ông

Quản muốn cho mọi người đều biết để thêm ḷng cậy

trông Thánh Cả Giuse.

 

Cậy nhờ Thánh Cả giúp trừ sâu rau

Mới đây tôi lại được nghe thầy tu sĩ của một

ḍng tu ở Viết Nam kể cho nghe câu chuyện của chính

bản thân thầy sau đây:

Hồi thầy c̣n là tập sinh, Bề trên tập viện trao cho

thầy và một số tập sinh bạn canh tác một khu vườn, sản

xuất rau, cung cấp cho nhu cầu cho tập viện, theo chiều

hướng của xă hội xă hội chủ nghĩa. Bấy giờ là cuối năm

1986 sang đầu năm 1987. Vườn rau diếp (xà lách) của

thầy và các bạn tốt tươi mơn mởn, lá nào cũng ánh lên

những sinh tố béo mỡ nơn nà. Một buổi sáng thầy ra

thăm vườn, thấy rau đă có thể thu hoạch được. Thầy định

bụng hôm sau sẽ cho thu hái hoa mầu. Nhưng chiều hôm

ấy ra thăm lại, thầy rất thất vọng sững sờ v́ không biết

bao nhiêu là sâu, nở từ bao giờ, đang bám cắn lá. Thật

nguy hiểm, nếu bây giờ lấy thuốc trừ sâu mà phun, sâu có

thể chết, nhưng chất độc của thuốc bám lại lá rau sẽ gây

nguy hại cho anh em dùng bữa. Nếu để cả sâu mà nhổ

rau, th́ sẽ phải mất lắm công sức bắt giết sâu khi rửa rau.

Lưỡng lự đôi đàng. Nhưng cầm trí lại, thầy quyết định

trao phó cho Thánh Cả Giuse việc trừ sâu đó. Thầy đơn

thành và khẩn thiết kêu xin, rồi để mặc Thánh Cả lo liệu.

Sáng hôm sau, kinh lễ vừa xong, thầy ra thăm

vườn. Thật là một hiện tượng lạ không ngờ đến bao giờ.

Một niềm vui đầy ngập tâm hồn. Hằng cơ man là kiến

đang thi nhau trèo rau bắt sâu. Sâu nhỏ, mỗi kiến tha

một con. Sâu lớn, hai ba kiến lệnh khệnh khiêng đi một.

Thầy cúi xem từng lá rau, thấy sâu đă hết sạch sành sạch.

Thường th́ kiến chỉ thu dọn xác chết, chứ có bao giờ bắt

mồi sống. Trước "sự lạ" bất ngờ đó, thầy cao tiếng gọi

anh em tập sinh bạn ra xem vườn. Mọi người đều vui

sướng tạ ơn Thánh Cả.

Trong bữa ăn cơm trưa hôm ấy, các tập sinh chỉ

bàn luận về ơn lạ Thánh Cả ban: gắp lá rau lên mà tâm

hồn tràn ngập niềm kính phục, tạ ơn, mến yêu Thánh Cả.

Sáng kiến xua kiến bắt sâu rau thật là sáng kiến độc đáo

của Thánh Cả Giuse. Sáng kiến ra, rồi lại thực hiện sáng

kiến, việc đó không người trần nào làm được.

 

5- Trả lăi ba phân (tr 43)

(Hết lương thực, cha con van nài Thánh Cả, Ngài ban cho cả vốn lẫn lăi)

Hồi đó vào tháng 3 năm 1917, tại Fort-résolution

trên bờ Đại hồ Nô lệ (Giang Lạc de l'Esclave) thuộc

miền cực bắc Canada, toàn thể cô nhi viện Thánh Giuse,

thừa sai, nữ tu và trẻ em, đều sắp rơi vào nguy cơ v́ hết

lương thực. Vụ đi câu cá mùa thu mới rồi không đủ; vụ

săn nai cũng vậy, mà thịt nai lại là món ăn chính trong

vùng. Người ta nghĩ đến việc t́m nai ngựa, một loại nai

lớn như ngựa (renne), để bù vào chỗ thiếu. Nhưng từ lâu

rồi, loại nai ngựa cũng trốn rét về phía Bắc băng dương

cả . Chỉ c̣n mỗi cách là chịu khó đi câu cá dưới băng.

Nhưng vừa rồi đă cho thả bảy mươi lưỡi câu, câu trong

suốt mười ngày, mà chỉ được có bốn con cá hương. Đồ

ăn dự trữ cũng đă cạn.

Chiều hôm đó cha Duport, phụ trách giáo điểm,

xuống nhà cơm lúc trẻ đang quây quần bên mấy bàn ăn

nghèo nàn, thức ăn chỉ có mấy con cá chiên và là mấy

con cuối cùng. Ông nói với một giọng hơi buồn không

có giáo đầu: .

- Các con ạ chỉ tại lỗi các con mà chúng ta mới lâm nguy cơ này.

Nhiều trẻ ngây thơ tưởng ông trách chúng tham ăn

và ăn nhiều, đă bắt đầu nức nở khóc. Nhưng cha trấn an chúng :

- Cha không có ư nói các con ăn nhiều đâu mà các

con phải khóc. Cha bực ḿnh v́ các con đă không cầu

xin Thánh Cả Giuse cho sốt sắng đủ.

Nghe vậy, các trẻ nhất loạt đứng lên giơ tay và

xin hứa sẽ hết sức cầu xin. Lúc đó, cha quay ra hỏi bà

mẹ Bề trên cô nhi viện xem cần phải bao nhiêu con nai

ngựa để nuôi cả nhà cho đến mùa tới. Bà Bề trên trả lời

ngay không đắn đo:

- Phải có đủ một trăm con nai ngựa, không thiếu con nào.

Cha Duport ra lệnh:

- Nào, các con quỳ cả xuống cầu nguyện ngay từ bây giờ.

Và một tuần chín ngày được bắt đầu ngay lập tức

để nài xin Thánh Cả Giuse ban cho cô nhi viện đủ một

trăm con nai ngựa.

 

* Chỉ đến ngày mốt là hết lương ăn, nên sáng sớm hôm sau, cha Duport cho gọi hai thợ thổ dân mà giáo điểm vẫn thuê đi san đến bảo:

- Các ông thắng chó đi, và đi săn nai ngh́ bây giờ!

Họ nhún vai căi:

- Cha cũng biết đó, mùa này mà đi săn ǵ chứ!

- Cứ đi đi mà. Cứ giết cho tôi đủ một trăm con

nai ngựa, không được thiếu một con nào. Thánh Cả

Giuse c̣n nợ chúng tôi, và Ngài sẽ trả chúng tôi hôm nay mà !

 

* Dầu nắm chắc là không ăn thua ǵ, nhưng v́ được

thuê tử tế hai người thợ săn lên đường. Họ đi chưa được

hai ngày, một lộ tŕnh vẫn c̣n là ngắn đối với miền này,

th́ một đàn vô số là nai ngựa kéo ra hồ, ngay trước mặt

họ. Chúng từ phía đông đến, nghĩa là trái với lệ thường

mà thổ dân ở đây kinh nghiệm. Bọn thợ săn kinh hoàng

v́ gặp chúng quá sớm trong một nơi mà họ chưa từng gặp

chúng đông đàn như vậy. Họ đi lại gần, lập vị trí và lừa

cho đàn nai chạy dạt về đàng trước họ, theo một lối thoát

duy nhất. Rồi họ bắn tỉa từng con, mỗi vịên đạn là một

con ngă, có khi ngă luôn hai con. Khi đàn nai đă gục hết,

họ đến đếm và xếp lên xe. . . Một trăm lẻ ba con nai ngựa to lớn.

Cùng lúc đó, ở cô nhi viện, các d́ phước và trẻ em

mồ côi họp cả ở nhà nguyện làm tuần cửu nhật nài van

Thánh Cả Giuse "đến vỡ cả linh hồn", xin Thánh Cả cấp

tốc ban cho đủ một trăm nai ngựa, không thiếu một con.

Khi làm việc tạ ơn sau khi lương thực đă được giải

quyết rồi, người ta mới suy đến ư nghĩa của ba con nai lẻ

đó. Xin một trăm, sao lại một trăm lẻ ba. Mỗi người đưa

ra một giả thuyết. Có người bảo Thánh Cả đại lượng, có

người bảo Thánh cả tính lầm. Ẩn ư vẫn chưa được phanh

phui thoả đáng th́ một d́ phước thổ dân ngây thơ chân

thật reo lên:

- Quí vị nói thật quá rồi! Đây là ư kiến của em: V́

chúng ta cầu nguyện nhiều và đúng chỗ, nên Thánh

Giuse trả luôn lăi cho chúng ta đó: lăi ba phân mà!

(Theo cha Duchaussois)

 

6- Được kiện (tr 49)

(Thiếu nữ xin Thánh Cả Giuse giữ trinh trắng cho ḿnh)

D́ Phước rất lấy làm lạ, không biết tại sao mấy hôm

nay, Valérie, cô học tṛ của d́, lại mang một nét

mặt quá băn khoăn. Từ ngày vào lưu trú xá đến nay,

Valérie vốn là một nữ sinh rất hồn nhiên vui vẻ, không

bao giờ lộ một vẻ buồn rầu ấu trĩ nào. Cô lại có một đạo

tâm rất tốt. Cô đă gia nhập hội Thánh Giuse trong lưu

trú xá. Không ngày nào cô quên cầu xin Thánh Cả ơn

được giữ nguyên tuyền tấm áo rửa tội và đức trong sạch.

Dầu sao th́ d́ phước cũng có nhiệm vụ phải gỡ

mối ưu tư đó cho học sinh của d́. Chiều nay d́ gọi

Valérie đến và hỏi?

- D́ thấy em mấy hôm này không vui. Valérie có

chuyện ǵ đau khổ, sao không cho d́ biết?

Valérie nhỏ nhẹ thưa:

-Thưa d́, em không có ǵ dám giấu d́ cả. Nhưng

em có cái này, nó làm cho em phải nghĩ lung lắm!

Vừa nói, Valérie vừa móc túi đưa cho d́ phước

một lá thư. D́ mở ra đọc, và không hiểu có chỗ nào làm

cho cô học tṛ của d́ phải mất bằng an như vậy. D́ lúng

túng không t́m ra căn cớ. Thấy d́ phước chưa hiểu tâm

sự của ḿnh, Valérie chỉ vào một đoạn trong thư:

Chỗ này, d́ ạ. D́ đọc coi. Nó làm em lo lắm.

D́ phước đọc lại đoạn đó, cười mà bảo:

- Ô hay ! D́ tướng Valérie phải vui chứ. Việc

mừng chung thân đại sự của người chị quí yêu mà

Valérie vẫn nói với d́ đây c̣n ǵ !

Thưa d́, đấy chính là chỗ làm em băn khoăn.

Đám cưới nào mà chả có nhưng cái lố lăng làm đẹp cho

đức thanh sạch phải chiến đấu. Em rất sợ đám cưới, nhất

là đám cưới này của chị em. Thế mà ba má em lại nói

hôm đó sẽ đến đón em về dự. . . Không về dự th́ mất ḷng

ba má em, làm cho chi em phải buồn; mà về th́ tránh sao

khỏi những nguy hiểm có thể làm nhọ gỉ đức trong sạch

của em. Khó nghĩ quá, d́ ạ? D́ đă biết cái tục lệ lễ cưới

ở thành phố Lyon này quá lâu rồi mà.

- ờ! em nói đúng. Nhưng mà cũng phải "vui cùng

kẻ vui " chứ em ? Miễn là . . .

Em nghĩ vui mà không sợ nguy hiểm ǵ, chứ nếu

vui mà thiệt hại cho linh hồn ḿnh, th́ có được cả thế

gian làm sản nghiệp cũng vô phúc quá, d́ ạ!

D́ phước đứng lặng, cảm phục tâm hồn đạo hạnh

và đức tin của Valérie. D́ có nhiệm vụ phải về phe với

linh hồn trong trắng và can đảm này. D́ trả bức thư cho

Valérie và nói:

- Phải rồi ! Phải rồi ! Mà Valérie đă thưa chuyện

với Thánh Cả Giuse chưa?

Mắt cô nữ sinh bỗng long lanh sáng. Vẻ mặt nở

tươi một niềm vui tin tướng. Một cái phao cứu đuối vừa

được d́ phước ném xuống. Cô sung sướng reo lên:

- Ồ! cảm ơn d́, thế mà em quên mất. Xin d́ tha

lỗi và giúp thêm lời cầu cho em với nhé.

Buổi tối hôm đó, lúc lưu trú xá lên hiệu ngủ,

Valérie đến gơ cửa pḥng d́ phước, và thưa d́ với một

vầng trán hân hoan hiện rơ trên gương mặt:

- Thưa d́, em được kiện rồi.

D́ phước ngạc nhiên, không hiểu lối dùng ngôn từ của Valérie:

- Kiện và ǵ vậy, em?

- Vụ chiều nay em thưa d́ đó. Em đă thưa chuyện

với Thánh Cả Giuse, và nài van rằng: "Cha quư yêu ơi,

xin Cha ngăn cản để con khỏi phải về gia đ́nh trong dịp

này". Và Thánh Cả đă nhận lời em rồi. D́ coi này: tay

và mặt em đầy những vết đỏ hết. Em bệnh rồi.

Rờ trán Valérie thấy nóng bừng, d́ phước vội vàng

đưa cô xuống pḥng y tế. D́ y tá cặp ống và khám bệnh:

Valérie phát khởi bệnh đậu mùa. Thế là cô nữ sinh đạo hạnh

ấy phải liệt giương suốt trong thời gian cử hành lễ cưới người

chị của cô.

 

Từ ngày đó, Valérie càng ngày càng mến yêu say

mê đức trong sạch. Cô cầu xin Thánh Cà Giuse với niềm

tin tưởng như chưa bao giờ có, để Thánh Cả giúp cô tránh

lánh khỏi mọi nguy hiểm và giữ được đức trong sạch cho

đến chết.

 

Hai năm sau, cô qua đời trong khi vẫn giữ được

nguyên tuyền tấm áo trắng rửa tội của cô, không hề lây

vướng một t́ ố trần tục.

(Theo cha Lejeune, CSsR)