Giáo lư Đạo Công giáo  được tóm lại  4 mối:

1- Những điều phải Tin, tóm lại trong kinh Tin kính,

2- Những điều phải Xin, tóm lại trong kinh Lạy Cha,

3- Những điều phải Giữ, tóm lại trong kinh 10 Điều răn,

4- Những điều phải Lănh, tóm lại trong kinh 7 Bí tích.

 

 

1. NHỮNG ĐIỀU PHẢI TIN TRONG ĐẠO CHÚA

---------------------------------------------------------------------

(bài này dài, nhưng rất cần thiết, nên chia ra để đọc kỹ )

 

1- Những điều phải Tin, tóm lại trong kinh Tin kính:

Kinh Tin kính các Tông đồ (do 12 thánh tông đồ Chúa Giêsu)

1. Tôi tin kính Đức Chúa Trời là Cha phép tắc vô cùng dựng nên trời đất.

2. Tôi tin kính Đức Chúa Giêsu Kitô là Con Một Đức Chúa Cha cùng là Chúa chúng tôi/ bởi phép Đức Chúa Thánh Thần mà Người xuống thai sinh bởi Bà Maria Đồng Trinh/ chịu nạn đời quan Phongxiô Philatô/ chịu đóng đinh trên cây Thánh giá/ chết và táng xác/ xuống ngục Tổ tông/ ngày thứ ba bởi trong kẻ chết mà sống lại/ lên trời ngự bên hữu Đức Chúa Cha phép tắc vô cùng/ ngày sau bởi trời lại xuống phán xét kẻ sống và kẻ chết.

3. Tôi tin kính Đức Chúa Thánh Thần.

4. Tôi tin có Hội Thánh hằng có ở khắp thế này.

5. Các Thánh thông công.

6. Tôi tin phép tha tội.

7. Tôi tin xác loài người ngày sau sống lại.

8. Tôi tin hằng sống vậy. Amen.

-----------------------------------

T́m hiểu kinh Tin kính theo sách Giáo lư Công giáo công bố năm 1992

(số trong ngoặc là số theo sách Giáo lư)

 

1. Tôi tin kính Đức Chúa Trời là Cha phép tắc vô cùng dựng nên trời đất.

 

a/ Tôi tin kính Đức Chúa Trời: Người Công giáo tin có MỘT Chúa, nhưng Chúa có BA NGÔI là Cha và Con và Thánh thần, Ba ngôi có cùng một bản tính là Chúa trời.

Mầu nhiệm (mystery) Thiên Chúa Ba ngôi là mầu nhiệm trung tâm của đời sống kitô hữu.

Họ tuyên xưng mầu nhiệm  này khi làm dấu Thánh giá +, khi đọc kinh Tin kính, kinh Sáng Danh, kinh Vinh  Danh.

 

b/ Là Cha: 

Chúa Giêsu Kitô cho phép các tín hữu gọi Cha Ngài là Cha.

Cha ở trên trời quyền phép vô cùng và thương con cái hơn hết mọi cha mẹ dưới trần.

 

c/  Phép tắc vô cùng = Toàn năng (Almighty)

Cha dựng nên mọi loài, điều hành mọi sự, và làm được mọi điều Ngài muốn, không hề có giới hạn.

 

d/ Dựng nên trời đất = Đấng tạo thành (The Creator):

Chúa dựng nên trời đất từ không không,  không cần vật liệu đă có sẵn, trong thời gian 6 ngày, hay 6 thời kỳ.

- Việc Thiên Chúa tạo dựng làm sáng tỏ các vấn nạn: Con người từ đâu tới? Con người đi về đâu? Vạn vật từ đâu tới? Vạn vật đi về đâu? Sự dữ (ác, khổ) bởi đâu mà ra? Ai chịu trách nhiệm về sự dữ? Có cuộc giải thoát khỏi sự dữ không?

- Thiên Chúa lưu tâm săn sóc các tạo vật Ngài đă dựng nên cách tỉ mỉ theo kế hoạch khôn ngoan vô cùng, nhưng Ngài cho phép sự dữ xảy ra để đạt điều tốt lành hơn.

- Trời và đất: Trời chỉ bầu trời, cũng là nơi Thiên Chúa ngự. Đất chỉ thế giới, nơi loài người ở. Thiên Chúa đă dựng nên thế giới và muôn loài, trong đó có thiên thần vô xác (linh thiêng, thiêng liêng) và loài người gồm hồn và xác.

- Thiên thần những tôi tớ, sứ giả của Thiên Chúa, đang được hưởng phúc bên Chúa,

Mỗi tín hữu có một thiên thần bản mạnh (guardian angel) , luôn ǵn giữ và chuyển cầu cho từ thời thơ ấu tới khi ly trần.

- Loài người được dựng nên theo "h́nh ảnh" Chúa,nghĩa  là:

- Có khả năng tự nhận biết, làm chủ ḿnh, tự trao tặng và liên kết với các người khác,  nhận biết, yêu mến Chúa, là tham dự vào cuộc sống Chúa.

- Loài người có xác vật chất và hồn linh thiêng (chỉ h́nh bóng Thiên Chúa). Hồn làm cho xác thành người, thành đền thờ Chúa, hồn là mô thức (form) của xác, hồn làm cho xác chất thành linh động. Hồn và xác thành một bản tính người.

- Hồn được Chúa trực tiếp tạo dựng, và hồn măi măi không hư nát (bất tử), sẽ kết hợp lại với xác ḿnh trong ngày sống lại.

- Chúa dựng nên người có nam có nữ, hoàn toàn b́nh đẳng. 

- Con người đầu tiên (tổ tông) được sáng tạo tốt lành, được sống thân t́nh với Chúa, ḥa thuận nơi bản thân, nơi nam nữ, nơi vạn vật, không phải chết, không phải khổ, làm chủ ḿnh, làm chủ vạn vật, thoát dục vọng. Nhưng con người đă làm mất đi những ơn đó v́ đă tự ư phạm tội.

- Tội Tổ tông ở chỗ: nghe lời dụ dỗ của quỉ, muốn trở nên như Chúa, lạm dụng tự do, bất tuân lệnh Chúa, phạm điều Chúa cấm.

- Hậu quả tội tổ tông:

- Lập tức mất ơn thánh thiện ban đầu, sợ hăi Chúa, xác mất ḥa hợp với linh hồn, với nhau, với các tạo vật, phải chết (về với bụi đất), tội lan tràn trên con cháu, v́ mang tính người.

- Nhưng Chúa đă không bỏ mặc con người, Ngài đă hứa ban Đấng Cứu Thế và Mẹ Ngài là Ađam và Evà mới.

 

 

2. Tôi tin kính Đức Chúa Giêsu Kitô (I believe in Jesus Christ)

 

a/ Tôi tin kính Đức Chúa Giêsu Kitô:

- Theo tiếng Do thái: Giêsu có nghĩa là Thiên Chúa cứu vớt. Dưới bầu trời không có Danh nào khác có thể cứu chúng ta. Danh Giêsu vượt trên mọi danh khác, thần dữ phải sợ Danh Ngài. Danh Giêsu là trung tâm kinh nguyện Kitô Giáo. Cao điểm của kinh Kính mừng là lời "Và Giêsu Con ḷng Bà gồm phúc lạ" (430-435).

- Kitô (Christos) là tiếng Hi lạp dịch từ tiếng Messia của Do thái, nghĩa là Đấng được xức dầu, Thiên Chúa đă dùng Thánh Thần xức dầu cho Ngài, Đức Kitô là Đấng được Chúa Cha sai xuống trần gian (436-440).

 

b/ Là Con một Đức Chúa Cha: nói lên sự liên kết giữa Thiên Chúa Con và Thiên Chúa Cha. Chính Chúa Cha đă nói lên điều này khi Chúa Giêsu chịu rửa trong sông Giođanô, cũng chính Chúa Kitô xác nhận trước Hội đồng Cộng tọa người Do thái (441-445).

 

c/ Cùng là Chúa chúng tôi (Our Lord) (430-455)

65. Danh hiệu Chúa là ǵ?

- Là nói lên quyền tối cao của Ngài. Ta kêu cầu với Ngài là Chúa trong mọi kinh nguyện, tôn nhận Ngài là Thiên Chúa tối cao của trời đất, Ngài là ch́a khóa, là trung tâm, là cùng đích của lịch sử nhân loại (446-451).

 

d/ Bởi phép Đức Chúa Thánh Thần, mà Người xuống thai sinh bởi Bà Maria Đồng Trinh (was conceived by the power of The Holy Spirit, born of The Virgin Mary).

- Với cách thế của Thiên Chúa, Thánh Thần là Đấng ban sự sống, đă cho Đức Maria mang thai Con Thiên Chúa, nhân tính Chúa Kitô đón nhận từ nhân tính của Đức Mẹ (484-487).

- Bản tính loài người nơi Chúa đón nhận bản tính Thiên Chúa trong mầu nhiệm Ngôi hiệp (the mysterious union of the Incarnation). Tất cả hành động của Chúa Kitô đều qui về Ngôi Hai Thiên Chúa. Ngài có tâm hồn và lư trí, có ư chí và hành động theo hai bản tính: Chúa và người. Thân xác Ngài là thân xác con người, cũng bị giới hạn, trái tim Ngài cũng yêu như mọi người (470-478).

- Thiên Chúa đă chọn một thiếu nữ trẻ tên là Maria, người Do thái, làng Nagiaret làm Mẹ Con Ngài. Suốt thời Cựu Ước, vai tṛ Đức Maria đă được chuẩn bị qua các phụ nữ Thánh thiện, sau cùng Ngài đă khai mở nhiệm cục mới (489).

- Đồng trinh là dấu chỉ đức tin của mẹ và dấu chỉ Mẹ trọn đời dâng hiến cho Chúa (506). Mẹ Maria vừa là trinh nữ vừa là Mẹ (507).

 

đ/ Chịu nạn đời quan Phongxiô Philatô, chịu đóng đanh trên cây Thánh giá (Suffered under Pontius Pilate, was cruxified)(571-629)

- Chúa đă giảng dậy và làm nhiều phép lạ, nhưng dưới mắt nhiều người Do thái, việc Chúa làm như chống lại lề luật của Dân Riêng: Họ vâng phục toàn bộ lề luật Moise, cả trong những giải thích truyền khẩu, họ coi Giêrusalem là nơi Thánh tối cao, họ tin vào Thiên Chúa duy nhất, không ai được coi ḿnh bằng Thiên Chúa (574).

- Việc Chúa Kitô chịu nạn chịu chết là mầu nhiệm trong kế hoạch Thiên Chúa từ trước. Chúa cho phép mọi hành động xuất phát từ những con người mù quáng để hoàn thành kế hoạch cứu độ (plan of salvation) của Ngài (600)

 

e/ Chết và táng xác (died, and was buried)

- Ngài đă chết v́ tội chúng ta (601). Ngài tự nguyện chết để cứu chuộc ta (609-617).

- Ngài mời ta vác thập giá theo Ngài, Ngài chỉ đường cho ta đi, Ngài nối kết ta với hy lễ Ngài, như Mẹ Ngài đă thật sự kết hợp trong mầu nhiệm cứu độ, v́ ngoài thập giá không có thang nào khác để lên trời (618).

- Con Thiên Chúa làm người đă chết thực và được chôn táng thực (629).

Nhờ phép Rửa tội, ta cũng được mai táng với Chúa Kitô (628).

 

 g/ xuống ngục Tổ tông (Descended into hell)

- Ngục tổ tông, c̣n được gọi là âm phủ, là nơi những người đă chết không được thấy Thiên Chúa.

Chúa không xuống ngục tổ tông để giải phóng những người đă bị kết án muôn đời, nhưng để giải phóng những người công chính đă sống trước Ngài (633).

 

 h/ Ngày thứ ba bởi trong kẻ chết mà sống lại (the third day He rose from the dead)(632-658)

- Đó là biến cố lịch sử, Thánh Phaolô đă viết về biến cố này cho Giáo đoàn Corinhto vào khoảng năm 56 (639). Mồ trống (640), các cuộc hiện ra (641), các môn đệ lại sờ thấy và dùng bữa với Chúa (645).

- Chúa đă phục sinh - để hoàn tất những lời đă hứa (652), - để xác nhận tính Thiên Chúa của Ngài 653), sau cùng, Chúa phục sinh là nguyên lư cuộc phục sinh sau này của ta. Trong khi chờ đợi phục sinh, ta "không c̣n sống cho ta, nhưng cho Đấng đă chết và phục sinh v́ ta" (655).

 

i/ Lên trời ngự bên hữu Đức Chúa Cha phép tắc vô cùng ( ascended into heaven and sits at the right hand of God The Father almighty)" (659-667)

- Sau 40 ngày, Ngài lên trời đánh dấu việc nhân tính Ngài đi vào cơi trời, và từ đó, sau này Ngài sẽ trở lại.

- Ngài ngự bên hữu Cha, nghĩa là Ngài được vinh quang, danh dự (663).

- Ngài vẫn c̣n tại thế nhờ Giáo hội Ngài (668). Ngài hiện diện nhờ những dấu chỉ lạ lùng kèm theo lời loan báo của Giáo hội (669).

 

 k/ Ngày sau bởi trời lại xuống phán xét kẻ sống và kẻ chết (He will come to judge the living and the dead)(668-682)

-  Ngày phán xét chung có thể xảy ra ở mọi thời (673), nhưng trước khi Đức Kitô trở lại, Giáo hội phải vượt qua thử thách cuối cùng, thử thách làm lung lạc niềm tin của nhiều tín hữu, nhất là thử thách lừa bịp của Phản Kitô (Antichrist: quỉ vương) (675).

- Cuộc chung thẩm sẽ xảy ra thế này: Lúc đó cách sống của mỗi người và bí mật các tâm hồn sẽ phơi bày trước ánh sáng. Lỗi bất tín coi thường ơn Chúa sẽ bị kết án. Thái độ với tha nhân sẽ cho thấy con người đón nhận hay từ chối ơn Thánh và t́nh yêu Thiên Chúa.

- Nhưng Chúa Con đă không đến để phán xét mà để cứu vớt. Chính v́ từ chối ơn Thánh Chúa trong cuộc đời, nên mỗi người tự phán định chính ḿnh. Họ sẽ đón nhận tùy theo công việc đă làm, họ có thể tự kết án ḿnh muôn đời v́ từ chối Thánh Thần T́nh yêu (679).

 

3. Tôi tin kính Đức Chúa Thánh Thần

(I believe in The Holy Spirit)

(GlCg92 từ số 683-747)

 

a/ Chúa Thánh Thần rất cần thiết cho đời sống công giáo.

Qua Bí tích Rửa tội, Chúa Thánh thần ban sức sống cho ta từ Chúa Cha và Chúa Con.

b/ Chúa Thánh Thần là Thiên Chúa ngôi Ba, dù khác biệt về ngôi, nhưng đồng bản tính (consubtantial with) với ngôi Cha và ngôi Con. Chúa Thánh Thần hành động với ngôi Cha và ngôi Con từ khởi đầu đến khi hoàn thành kế hoạch cứu rỗi loài người.

c/ Chúa Thánh Thần hoạt động trong Giáo hội: Ngài đến với Giáo hội dưới h́nh lưỡi lửa vào ngày lễ Ngũ tuần (Pentecost). Ngài là T́nh yêu: t́nh yêu là ơn đầu tiên chứa đựng mọi ơn khác, từ đó ban ơn tha tội qua Bí tích Rửa tội. Nhờ t́nh yêu này, ta sống đời sống mới trong Chúa Kitô. Nhờ Thánh Thần, đời sống ta sinh hoa trái: bác ái, hoan lạc, b́nh an, nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm, trung tín, hiền ḥa, tiết độ. (Gl 5,22-23). Qua Giáo hội, Thánh Thần chuẩn bị, lôi kéo họ về, Ngài bày tỏ Chúa Kitô Phục sinh, Ngài làm cho mầu nhiệm Chúa Kitô hiện diện tuyệt vời trong Bí tích Thánh Thể, để giao ḥa họ và đưa họ vào hiệp thông với Thiên Chúa Cha. Qua các Bí tích của Giáo hội, Đức Kitô thông ban Thánh Thần là Đấng Thánh Hóa cho các phần Thân thể Ngài là Giáo hội.

 

4.Tôi tin có Hội Thánh hằng có ở khắp thế này.

(I believe in The holy Catholic Church)(748-945)

a/ Giáo hội được chuẩn bị lạ lùng trong lịch sử Israel khởi đầu từ ơn gọi Abraham, được Chúa Kitô thiết lập khi chọn nhóm 12 tông đồ, được tỏ ra nhờ Thánh Linh trong lễ Ngũ tuần, và hoàn tất trong vinh quang, dù đầy cam go.

b/ Giáo hội vừa hữu h́nh (có cơ cấu phẩm trật, cộng đoàn hữu h́nh, Giáo hội trần thế, nhân linh); vừa vô h́nh (nhiệm tể Chúa Kitô, cộng đoàn thiêng liêng, ơn phúc trời cao, thần linh)

c/ Giáo hội có 4 đặc tính: duy nhất, Thánh thiện, công giáo, tông truyền? (811-870)

    1/Duy nhất (One):

- V́ chỉ có một Đấng Sáng lập là Chúa Kitô

    2/ Thánh thiện (Holy)

- V́ Chúa Ba ngôi là Thánh, trong giáo hội đấy tràn sự thánh thiện của Chúa Kitô, dù nhiều phần tử không thánh.

    3/Công Giáo (Catholic)

 - V́ Đức Kitô sai Giáo hội đến rao giảng Tin mừng cho toàn thể nhân loại.

    4/ Tông truyền (Apostolic)

 - V́ được thiết lập và lưu truyền từ thời các Tông đồ Chúa Kitô tới nay.

 

d/ Tín hữu Công Giáo là những ai?

- Là những người đă gia nhập Giáo hội trọn vẹn, chấp nhận tổ chức Giáo hội, phương tiện cứu rỗi, lănh các Bí tích.

đ/ Mọi tín hữu Công Giáo có được cứu rỗi linh hồn (sự sống đời đời) cả không?

- Những tín hữu Công Giáo "không bền vững trong Đức Ái" (không có ơn nghĩa Chúa, mắc tội trọng mà không sám hối) th́ không được cứu rỗi, v́ xác ở trong Giáo hội mà hồn th́ không.

e/- Giáo hội có thái độ nào với những người ngoài Kitô Giáo?

- Với những tôn Giáo ngoài Kitô Giáo, Giáo hội "nh́n nhận tất cả những ǵ là tốt lành và chân thật trong các tôn Giáo này như sự chuẩn bị cho Tin mừng cứu độ", tuy họ có những sai lầm làm sai lạc h́nh ảnh Thiên Chúa.

g/ Ngoài Giáo hội Công Giáo có được cứu rỗi không?

- Nếu biết Giáo hội Công Giáo là cần thiết mà - vẫn không muốn gia nhập, - hoặc không muốn kiên tŕ ở lại trong Giáo hội này, th́ không được cứu rỗi (846).

  Nhưng nếu ai có ḷng thành đi t́m Chúa, và họ gắng làm theo Ư Chúa, theo tiếng lương tâm của họ, họ có thể được cứu rỗi.

h/ Tại sao Giáo hội tôn trọng tự do tín ngưỡng mà lại c̣n truyền Giáo?

- Giáo hội làm theo lệnh truyền của chính Chúa Kitô: "Hăy đi rao giảng cho muôn dân..." (Mt 28,19-20). Thiên Chúa muốn mọi người được cứu rỗi (1 Tm 2, 4).

i/ Ơn gọi (vocation) của Giáo dân là ǵ?

- Là t́m kiếm Nước Thiên Chúa trong khi sử dụng các sự việc trần thế.

 

 

5. Các Thánh thông công.

(the communion of saints)

(GlCg92 từ số 946-975)

 

a/ Là hiệp thông 3 t́nh trạng: Tín hữu trần gian, linh hồn luyện ngục, các thánh thiên đàng.

Ba t́nh trạng trao đổi những lợi ích thiêng liêng, trong gia đ́nh của Thiên Chúa.

 

b/ ĐỨC TRINH NỮ MARIA, MẸ CHÚA KITÔ, MẸ GIÁO HỘI

(Mary, Mother of Christ, Mother of The Church)

(GlCg92 từ số 963-972)

Tại sao gọi Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa và Mẹ Giáo hội?

- Gọi là Mẹ Thiên Chúa v́ Người sinh ra Chúa Kitô là Thiên Chúa, gọi là Mẹ Giáo hội v́ qua đức Ái, Người sinh ra các tín hữu là chi thể của Chúa Kitô.

Vai tṛ của Đức Mẹ đối với Giáo hội xuất phát từ đâu?

- Từ việc Mẹ gắn liền với Chúa Kitô Cứu chuộc từ lúc cưu mang tới khi Ngài chết. Sau khi Chúa về trời, Mẹ đă trợ lực Giáo hội bằng lời cầu của ḿnh.

Thiên Chúa đă thưởng Đức Mẹ những đặc ân ǵ?

- Đặc ân Vô nhiễm nguyên tội, Mẹ Thiên Chúa, Đồng trinh trọn đời, Hồn xác lên trời, và Nữ vương Vũ trụ.

Giáo hội có ḷng tôn kính Đức Mẹ thế nào?

- Giáo hội tôn kính Đức Mẹ bằng phụng tự đặc biệt qua các lễ phụng vụ, qua kinh Mân côi được coi như tóm tắt toàn bộ Phúc âm.

 

 

6. Tôi tin phép tha tội.

 (I believe in the Forgiveness of sins)

(Từ số 976-978)

 

a/Phép (Bí tích) Tha tội là phép nào?

- Là phép Rửa tội. Phép Rửa tội là Bí tích số một và chính yếu để ban ơn tha tội. Chính Chúa Kitô đă nói rơ: Ai tin và chịu Phép Rửa tội sẽ được cứu rỗi (Mc 16,16). Khi lănh Phép Rửa tội, người ta được tha tội nguyên tổ, mọi tội riêng, và mọi h́nh phạt bởi tội.

b/ Phép Rửa tội (Sacrament of Baptism) làm cho ta hết phạm tội phải không?

- Không. Phép Rửa tội không giải thoát con người khỏi những suy yếu của bản tính con người, v́ thế, ta vẫn phải chiến đấu để chống lại những giao động của t́nh dục luôn kéo ta về sự ác.

c/ Bí tích Rửa tội có là phương thế duy nhất để Giáo hội tha tội không?

- Không, ngoài Phép Rửa tội, Giáo hội c̣n có Bí tích Giải tội (xá giải, hoà giải) để tha tội cho ta, cho ta làm ḥa với Chúa và với Giáo hội.

d/ Giáo hội có quyền tha tội, vậy Giáo hội tha được những tội nào?

- Không tội lỗi nào nặng nề đến đâu mà Giáo hội không thể tha thứ, miễn là tội nhân thành tâm ăn năn sám hối.

đ/ Giáo hội khuyên tội nhân trông cậy vào Phép Tha tội thế nào?

- Giáo hội khuyên khơi dậy nơi giáo dân niềm trông cậy vào ḷng thương xót vô biên của Chúa Kitô đă ban cho Giáo hội khi Ngài sống lại, đó là quyền tha thứ tội lỗi cho các tông đồ và các vị kế tiếp qua chức linh mục sau này trong Giáo hội (983).

 

 

7. Tôi tin xác loài người ngày sau sống lại.

(I believe in the Resurrection of The Body)

(Từ số 988-1019)

 

a/ Sống lại là ǵ?

- Sống lại là việc Thiên Chúa trả lại sự sống vĩnh viễn cho thân xác chúng ta khi cho xác kết hợp lại với linh hồn.

b/ Ai sẽ sống lại?

- Mọi người lành, kẻ dữ, nhưng người đă làm lành sẽ sống lại để được sống măi, người đă làm điều dữ sẽ sống lại để chịu án phạt đời đời.

c/ Khi nào người ta sẽ sống lại?

- Người ta sẽ sống lại vào ngày tận thế, và sống măi với Chúa Kitô.

d/ Để sống măi với Chúa Kitô, ta cần phải làm ǵ bây giờ?

- Phải chết với Chúa Kitô, nghĩa là phải sẵn sàng chết, rời bỏ thân xác này mà ra đi, đó là khi linh hồn ĺa khỏi xác.

đ/ Chết là ǵ?

- Chết là linh hồn ĺa khỏi xác, là lúc tận cùng của cuộc sống ở trần gian.

e/ Chúa Kitô đă biến đổi sự chết thế nào?

- Tuy run sợ khi đối diện với sự chết, nhưng Chúa Kitô đă can đảm hoàn toàn vâng phục Thánh Ư Chúa Cha. Sự vâng phục này đă biến đổi lời chúc dữ của cái chết thành lời chúc lành.

g/ Đâu là ư nghĩa cái chết theo Công Giáo?

- Nhờ Chúa Kitô, cái chết của người Công Giáo có ư nghĩa như là mối lợi, v́ hy vọng sẽ sống lại với Người để sống đời sống mới.

h/ Chết rồi có "đầu thai" vào kiếp khác (return to other earthly life) không?

- Chết là tận cùng cuộc sống lữ hành của cuộc đời duy nhất, người ta chỉ chết một lần, đạo Công giáo không tin có sự đầu thai lại sau khi chết.

i/ Giáo hội khuyên điều ǵ về sự chết?

- Giáo hội khuyên chuẩn bị cho giờ chết của ḿnh. Phải sống sao như là sẽ chết hôm nay, để tránh tội lỗi, làm việc lành. Gắng đừng phạm tội hơn là tránh sự chết.

 

 

8. Tôi tin hằng sống vậy (vĩnh cửu).

 (I believe in life everlasting)

(Từ số 1020-1065)

 

a/ Những ǵ xảy ra sau khi chết?

- Sau khi chết người ta phải phán xét riêng, nghĩa là xét công tội tùy theo công việc và niềm tin của mỗi người.

b/ Ai được nhận vào Thiên đàng (Heaven)?

- Ai chết trong ân sủng và ơn nghĩa Chúa (grace and friendship), và đă hoàn toàn được thanh tẩy (perfectly purified), sẽ sống muôn đời (live forever) với Chúa.

c/ Nơi Thiên đàng, người lành hưởng phúc thế nào?

- Họ được thấy Chúa tận mặt, được sống trong sự sống và t́nh yêu với Chúa Ba ngôi, được thỏa những nguyện vọng sâu xa nhất của con người, đó là t́nh trạng hạnh phúc cao nhất và vĩnh viễn. Họ sống với Chúa Kitô, trong Chúa Kitô, nhưng họ vẫn giữ bản sắc và tên gọi của ḿnh.

d/ Trên Thiên đàng có những ai?

- Có Thiên Chúa Ba ngôi, Đức Mẹ Maria, các thiên thần, các thánh.

đ/ Thiên đàng được nói qua những h́nh ảnh nào?

- Thiên đàng vượt quá mọi hiểu biết và biểu tượng. Thánh kinh nói về Thiên đàng qua những h́nh ảnh: sự sống, ánh sáng, b́nh an, tiệc cưới, rượu Nước Trời, nhà  Cha, thành Giêrusalem trên trời, thiên đàng, nơi mắt chưa thấy, tai chưa nghe, ḷng trí chưa nghĩ tới, nơi Chúa dành sẵn cho ai yêu mến Ngài. (1027).

e/ Luyện ngục (Purgatory) là ǵ?

- Luyện ngục là nơi những người chết trong ân sủng và t́nh nghĩa của Thiên Chúa, nhưng chưa được thanh tẩy trọn vẹn, phải chịu sự thanh tẩy cuối cùng (final purification) ḥng đạt sự thánh thiện cần thiết để bước vào niềm vui thiên đàng.

g/ Kinh Thánh nói ǵ về luyện ngục?

- Cựu Ước (2 Mcb 12, 46), Phúc âm theo Thánh Matthêô (Mt 12,31), thư Thánh Phaolô (1 Cr 3,15; 1 Pr 1,7) gián tiếp nói về luyện ngục.

h/ Giáo hội Công Giáo nói ǵ về luyện ngục?

- Công đồng Florentia, Công đồng Trentô đă nói rơ ràng về luyện ngục. Giáo hội luôn khuyến khích giáo dân dâng Thánh lễ, cầu nguyện, bố thí, hưởng ân xá, làm việc đền tội để giúp các người đă qua đời.

177. Hỏa ngục (Hell) là nơi nào?

- Hỏa ngục là nơi những kẻ chết trong tội trọng mà cố chấp không sám hối, không đón nhận t́nh thương Chúa. Họ sẽ măi măi phải xa ĺa Chúa và các Thánh trên trời.

178. Kinh Thánh có hay nói đến hỏa ngục không?

- Chúa Kitô nói rất nhiều lần: hỏa ngục, lửa không tắt, lửa muôn đời (Mt 5, 22-29; 10, 18; 13, 42-50).

179. Giáo hội dạy điều ǵ về hỏa ngục?

- Giáo hội xác định có hỏa ngục và hỏa ngục đời đời. Giáo hội kêu gọi tránh hỏa ngục bằng sám hối tội lỗi, đi vào đường hẹp, từ bỏ ḿnh của Phúc âm, luôn tỉnh thức chờ Chúa đến.

180. Thiên Chúa có ấn định trước cho ai phải sa hỏa ngục không?

- Không, Thiên Chúa không tiền định cho ai phải sa hỏa ngục, người ta sa hỏa ngục v́ người ta phạm trọng tội (cố ư xoay lưng lại với Chúa) và cố chấp trong t́nh trạng này tới cùng (không sám hối).

181. Thế nào là phán xét chung?

- Là sự phơi bày tất cả những hậu quả sau cùng của những ǵ mà mỗi người đă làm tốt, hoặc đă bỏ qua không làm trong cuộc đời trần gian của ḿnh.

Việc phán xét chung sẽ diễn ra vào lúc Chúa Kitô trở lại trong vinh quang. Ngài sẽ tách chiên ra khỏi dê. Những người công chính (chiên) sẽ ngự trị muôn đời với Chúa Kitô, họ được tôn vinh cả hồn lẫn xác.

182. Sau khi phán xét chung những ǵ sẽ xảy ra?

- Người công chính được đổi mới, vũ trụ cũng sẽ được đổi mới (trời mới đất mới). Trong nơi mới này (Kh 21,5) sẽ không c̣n khóc lóc, kêu than, không c̣n sự chết.

Chúng ta không biết thời gian nào là thời gian Phán xét chung và đổi mới con người và vũ trụ.

Sứ điệp của việc Phán xét chung là lời kêu gọi hăy trở về với Thiên Chúa, trong khi Ngài c̣n ban cho người ta thời gian thuận tiện, thời gian cứu độ.

 

 Amen.

Trong tiếng Do thái, "Amen" có nghĩa là tin, là trung thành: Tôi tin Chúa , Chúa trung thành với tôi. Tiên tri Isaia gọi Chúa là "Thiên Chúa của Amen". Chúa Kitô là "Amen" (Kh 3, 14), Ngài là Amen của t́nh thương Chúa Cha dành cho tôi. Nhờ Chúa Kitô, tôi thưa Amen để tôn vinh Thiên Chúa.