2. Những điều phải LĂNH được tóm lại trong kinh 7 Bí tích

(bài này cũng khá dài, chia nhiều lần mà đọc)

Kinh Bảy Bí tích:

Đạo Đức Chúa Trời có bảy phép Bí tích:

Thứ nhất là phép Rửa tội,

Thứ hai là phép Thêm sức,

Thứ ba là phép Ḿnh Thánh Chúa,

Thứ bốn là phép Giải tội,

Thứ năm là phép Xức dầu thánh,

Thứ sáu là phép Truyền chức thánh,

Thứ bảy là phép Hôn phối.

 

BẢY BÍ TÍCH CỦA GIÁO HỘI

(The Seven Sacraments of The Church)

(1210-1666)

 

Bí tích của Tân Ước có 7, do Chúa Kitô thiết lập. Bảy Bí tích liên quan đến các giai đoạn của cuộc sống tư nhiên và cuộc sống siêu nhiên (vượt trên tự nhiên) của con người, từ khi sinh ra, tăng trưởng, được chữa lành, được trao sứ mạng để sống niềm tin tới khi qua đời.

 Đoạn I

CÁC BÍ TÍCH GIA NHẬP GIÁO HỘI

(The Sacraments of Christian Initiation)

 (1212-1419)

 

I. BÍ TÍCH RỬA TỘI

(Sacrament of Baptism)

(1113)

a/ Bí Tích Rửa tội quan trọng thế nào trong đời sống Kitô Giáo?.

- Là nền tảng của tất cả cuộc sống Kitô Giáo (1213).

b/ Bí tích Rửa tội ban những ơn ǵ?

- Nhờ Bí tích Rửa tội, ta được tha tội lỗi (tội Tổ tông, tội riêng, h́nh phạt bởi tội), được trở nên con Chúa, thành chi thể Chúa Kitô, trong Giáo hội Công giáo.

c/ Ai có thể lănh nhận Phép Rửa tội?

- Bất cứ ai chưa lănh phép này (1246).

d/ Có cần cha mẹ đỡ đầu (godfather, godmother) không?

- Có, v́ Phép Rửa tội là Bí tích của đức tin, đức tin đây là đức tin khởi đầu cần được phát triển. Vai tṛ của cha mẹ đỡ đầu, họ phải là những người có đức tin vững mạnh, có khả năng và sẵn sàng giúp đỡ người mới lănh nhận phép Rửa tội.

đ/ Không lănh rửa tội có được cứu rỗi không?

- Những người chịu chết v́ đức tin khi chưa được chịu Bí tích Rửa tội, th́ coi  như đă được chịu Bí tích Rửa tội do sự chết của họ. Bí tích Rửa tội bằng Máu (chết v́ tin Chúa) cũng như phép Rửa tội bằng ḷng ước ao, tuy không là Bí tích, nhưng mang lại tất cả các hoa trái của phép này (1257).

Đối với người dự ṭng chết khi chưa được rửa tội, th́ ḷng ao ước tỏ tường được rửa tội và sự sám hối tội lỗi cùng với đức ái của họ sẽ bảo đảm ơn cứu độ cho họ, tuy không phải là Bí tích.

Trẻ nhỏ chết không được rửa tội, Giáo hội chỉ c̣n biết phó thác các em cho lượng từ bi Chúa. Chúa nhân từ muốn mọi người được cứu rỗi (1 Tm 2, 4). Điều này cho phép ta hy vọng có một con đường cứu độ cho các trẻ em chết khi chưa được rửa tội. Nhân đó Giáo hội càng khẩn thiết kêu gọi đừng cản trở việc trẻ em đến với Chúa Kitô qua hồng ân của Bí tích Rửa tội.

 

II. BÍ TÍCH THÊM SỨC

(Sacrament of Confirmation)

(1285)

a/ Bí tích Thêm sức ban ơn ǵ?

- Chúa Thánh Thần được ban xuống đầy ơn: tăng ơn Phép Rửa tội, tăng t́nh con Chúa, kết hợp khăng khít hơn với Chúa Kitô, tăng liên lạc với Giáo hội, ban sức mạnh đặc biệt của Thánh Linh để ta trở thành CHỨNG NHÂN (witness) của Chúa Kitô, không ngại xưng đạo người.

b/ Ai được lănh Bí tích thêm sức?

- Tất cả những ai đă lănh Bí tích Rửa tội, đă tới tuổi biết "Phân biệt lành dữ"(the age of discretion) đều được lănh Bí tích Thêm sức; dù trẻ em dưới tuổi phân biệt lành dữ, nếu nguy tử (danger of death), cũng được lănh Phép này.

c/ Muốn lănh Bí tích Thêm sức phải chuẩn bị làm sao?

Phải học Giáo lư về Giáo hội Chúa Kitô, Giáo hội hoàn vũ và Giáo hội địa phương, trách nhiệm tông đồ của người tín hữu. Bí tích này cũng cần có người đỡ đầu (sponsor) như Bí tích Rửa tội. Có thể t́m cùng một người cho cả hai Bí tích để giữ tính cách thống nhất của hai Bí tích này.

Để lănh Bí tích Thêm sức, phải ở trong t́nh trạng ân sủng (state of grace), nên thanh tẩy tâm hồn bằng Bí tích Ḥa giải để nhận ơn Thánh linh, phải cầu nguyện tha thiết hơn xin ơn dễ dạy và sẵn sàng hành động (1310).

 

III. BÍ TÍCH THÁNH THỂ

(Sacrament of The Eucharist)

(1322)

a/ Địa vị của Bí tích Thánh Thể?

- Bí tích Thánh Thể hoàn tất việc gia nhập Kitô Giáo, cho người tân ṭng tham dự vào lễ hi sinh của Chúa cùng với tất cả cộng đoàn (1322).

b/ Chúa Kitô hiện diện trong Phép Thánh Thể cách nào?

- Trong Bí tích rất Thánh này có chứa đựng Ḿnh và Máu Chúa Kitô cách thật sự, cách hiện thực và cách bản thể, cùng với linh hồn và thiên tính của chúa Giêsu Kitô, và như vậy là có Chúa Kitô toàn vẹn (1374)

(Công đồng Trentô đă tóm tắt đức tin của Giáo hội khi tuyên bố rằng:" Bởi v́ Chúa Kitô, Đấng Cứu Chuộc chúng ta đă nói rằng h́nh bánh mà Ngài dâng lên chính là Ḿnh Ngài, cho nên trong Giáo hội người ta luôn xác tín điều đó và là điều được Thánh Công đồng lại tuyên bố như sau: Qua việc Thánh hiến tấm bánh và ly rượu, có sự thay đổi tất cả bản thể của bánh thành bản thể của Thân Thể Chúa Kitô, và tất cả bản thể của rượu được đổi thành bản thể Máu Thánh Ngài: Giáo hội Công Giáo gọi sự biến đổi này cách rất đúng và chính xác là "biến bản thể"( transubstantiation) (1376).

Sự hiện diện của Chúa Kitô trong Thánh Thể bắt đầu từ lúc Thánh hiến (consecration) và kéo dài bao lâu c̣n tồn tại h́nh bánh và h́nh rượu Thánh Thể. Chúa Kitô hiện diện toàn thân nơi nơi mỗi h́nh (species) rượu và h́nh bánh, cũng như nơi mỗi phần của bánh và rượu, thành thử sự bẻ bánh không phân chia chúa Kitô (1377)

c/ Muốn Rước lễ (Hiệp lễ) phải có điều kiện nào?

- Phải có 3 điều này: 1. Sạch tội trọng, 2. Có ư tốt lành, 3. không ăn đồ đặc trong một giờ trước khi lên rước lễ.

Cách mặc y phục, cách lên rước Thánh Thể phải nói lên sự tôn kính, vẻ long trọng và niềm vui của giây phút lănh nhận Chúa Kitô (1387).

Giáo hội buộc tín hữu phải tham dự phụng vụ các ngày Chúa nhật và các ngày lễ trọng. Rước lễ ít nhất mỗi năm một lần, nếu có thể, Rước lễ trong Mùa Phục sinh, sau khi đă lănh Bí tích Ḥa giải. Giáo hội khuyên tín hữu rước lễ siêng năng hơn, ngay cả hằng ngày (1389).

d/ Các hoa trái của Rước lễ?(1402- 05)

- 1. Tăng sự kết hợp với Chúa Kitô, với Giáo hội Chúa,

 - 2. Giúp ta tránh tội lỗi,

 - 3. Ngăn ngừa ta khỏi phạm tội trọng,

 - 4. Là bảo đảm để ta sống muôn đời .

  

Đoạn II

CÁC BÍ TÍCH CHỮA LÀNH

 (The Sacraments of  Healing)

(1420-1532)

 

I. BÍ TÍCH H̉A GIẢI

(Sacrament of Penance and Reconciliation)

 

a/ Tại sao cần Bí tích Ḥa giải sau Bí tích Rửa tội?

- Khi nhập Kitô Giáo, sự mong manh và yếu đuối của bản tính loài người vẫn c̣n, nhục dục vẫn tồn tại, con người phạm tội.  Tội phạm đến Thiên Chúa, cắt đứt hiệp thông với Chúa và Giáo hội.

- Chỉ ḿnh Thiên Chúa có quyền tha tội, Chúa Kitô đă ban quyền này cho các thừa tác viên để họ tha tội nhân Danh Chúa (1441).

b/ Bí tích Ḥa giải cần cho ai?

- Cần cho những ai sau khi rửa tội đă ngă vào tội trọng (đánh mất ân sủng của Phép Rửa tội, gây tổn thương cho sự hiệp thông với Giáo hội).

c/ Muốn xưng tội cần làm mấy việc?

- Cần làm 4 việc sau:

1/ Xét tội (theo 10 Điều răn...)

2/ Ăn năn, dốc ḷng chừa tội,(1452),

3/ Xưng tội (xưng hết các tội trọng với linh mục)

4/ Đền tội

 (trả lại những ǵ đă ăn trộm, phục hồi thanh danh cho người ḿnh đă vu khống, bồi thường thương tích đă gây nên. Việc đền tội sẽ chú ư tới hoàn cảnh bản thân của hối nhân, và nhắm ích thiêng liêng cho người đó, phù hợp theo mức độ có thể theo sự nặng nề và tính chất tội phạm. Có thể là đọc kinh, đóng góp từ thiện, phục vụ anh em, tự nguyện bớt ăn tiêu, hi sinh, kiên nhẫn chấp nhận thập giá hàng ngày của ḿnh).

 

d/ Hiệu quả của Bí tích Ḥa giải? (1468-70)

- Sau khi ḥa giải, hối nhân được b́nh an lương tâm, an ủi thiêng liêng, phục sinh tinh thần, phục hồi t́nh con Chúa. Ḥa giải với Giáo hội, ḥa giải với bản thân ḿnh, với anh em ḿnh, với vạn vật.

 

II. BÍ TÍCH XỨC DẦU BỆNH NHÂN

(Sacrament of The Anointing of the sick)

 (1499- 1532)

 

a/ Chúa Kitô với bệnh tật thế nào?

- Chúa cảm thương và chữa lành bệnh tật đủ loại. Ngài đồng hóa với người bệnh (Mt 25,36). Trong các Bí tích, Chúa Kitô tiếp tục "đụng chạm" đến chúng ta để chữa cho lành.

Sự đau khổ của ta có thể góp phần vào ơn cứu chuộc (Cl 1,24).

b/ Ai được lănh Bí tích Xức dầu Bệnh nhân, lănh khi nào?

- Bí tích Xức dầu Bệnh nhân được ban cho những tín hữu nguy tử do bệnh tật, v́ thể xác yếu dần đi, hoặc v́ tuổi già.

- Nếu bệnh nhân đă được xức dầu, rồi khỏe lại, sau đó lại ngă bệnh nặng, có thể xin xức dầu lần nữa. Trong cùng thời gian trọng bệnh, dù đă được xức dầu, nếu bệnh t́nh trở nên nguy kịch hơn, cũng được xin xức dầu nữa.

- Các người coi bệnh nhân nên biết lúc nào mời linh mục tới xức dầu.

c/ Hiệu quả của Bí tích Xức dầu Bệnh nhân ?

- Bí tích Xức dầu bệnh nhân ban ơn an ủi, ơn b́nh an và ơn can đảm vượt qua những khó khăn bệnh tật hoặc tuổi già, giúp ta tin kính Thiên Chúa, thêm sức mạnh để ta chống những cám dỗ của ma quỉ, cám dỗ tuyệt vọng và lo âu trước cái chết, được chữa lành phần hồn, có thể về phần xác nữa, nếu Chúa muốn. Nếu bệnh nhân phạm các tội th́ sẽ được tha thứ (Gc 5, 15). Được kết hợp cách mật thiết hơn sự đau khổ ḿnh với sự đau khổ của Chúa Kitô.

d/ Của ăn đàng có ư nghĩa ǵ?

- Thánh Thể Chúa Kitô là của ăn đàng cho người đang đi vào cuộc sống vĩnh cửu, Ai ăn thịt Ta... sẽ được sống đời đời (Ga 16, 54). Bí tích Giải tội, Xức dầu và Thánh Thể được coi như hành trang của người tín hữu đang bước vào quê trời.

 

 Đoạn III

CÁC BÍ TÍCH PHỤC VỤ SỰ HIỆP THÔNG

(The Sacraments in the service of Communion)

(1533-1658)

 

I. BÍ TÍCH TRUYỀN CHỨC THÁNH

(The Sacrament of Holy Orders)

(1536-)

a/ Ai được thông phần chức linh mục của Chúa Kitô là đại tư tế?

- Một số người được Chúa chọn làm linh mục thừa tác (linh mục, Giám mục).

b/ Qua Bí tích Truyền Chức Thánh, các linh mục hành động thế nào?

- Giáo hội khẳng định rằng: bằng vào Bí tích Truyền Chức Thánh, linh mục hành động với danh vị Chúa kitô là Đầu (in persona Christi). Qua các thừa tác viên, Chúa Kitô hiện diện hữu h́nh nơi cộng đoàn tín hữu. Dù sự hiện diện này không được hiểu là họ được giữ ǵn khỏi những yếu đuối của con người, khỏi óc thống trị, khỏi những sai lầm và cả tội lỗi nữa.

Các linh mục thừa tác hành động nhân Danh Chúa Kitô và nhân Danh toàn thể Giáo hội khi dâng lên Chúa lời cầu của Giáo hội, nhất là khi dâng Thánh lễ. Trong Thánh lễ, các linh mục thay mặt Chúa Kitô (1556).

c/ Hiệu quả của Bí tích Truyền Chức Thánh?

- Nhờ Bí tích Truyền Chức Thánh, người ta trở nên có khả năng hành động như người đại diện Chúa Kitô.

Bí tích này có dấu ấn, nên chỉ ban một lần mà thôi,  dù họ có thể bỏ những nghĩa vụ liên hệ, ơn gọi của họ vẫn trường tồn. Dù sự bất xứng của thừa tác viên cũng không ngăn cản Chúa Kitô hành động qua các Bí tích."Ánh sáng xuyên qua vật nhơ nhớp, ánh sáng cũng không bị nhơ bẩn" (T. Augutinô).

 

II. BÍ TÍCH HÔN PHỐI

(The Sacrament of Matrimony)

(1601- 1666)

 

a/ Chúa Kitô dạy ǵ về hôn nhân?

- Chúa Kitô đă đưa ư nghĩa hôn nhân trở về ư nghĩa nguyên thủy: một vợ một chồng, không li dị. V́ chính Thiên Chúa đă kết hợp người nam và người nữ, nên không ai có thể tự ư tháo cởi. (1614-15).

b/ Điều kiện để lập giao Ước Hôn nhân thành sự là ǵ?

- Là một người nam, một người nữ, đă được Rửa tội, được tự do kết hôn, nói lên sự ưng thuận này (1625).

c/ Có cần chuẩn bị thành hôn không?

- Để lời thưa ưng thuận của hai vợ chồng thật sự là một hành vi tự do và có trách nhiệm, và để giao ước hôn nhân có những nền tảng con người và người Công Giáo được vững chắc bền bỉ, rất cần chuẩn bị hôn nhân (1632).

d/ Giáo hội có cho kết hôn với người ngoài Công Giáo không?

- Giáo hội cho phép kết hôn với người rửa tội ở tôn Giáo khác, gọi là hôn phối hỗn hợp, nhưng Giáo hội đ̣i hỏi sự chú ư đặc biệt thận trọng của người phối ngẫu và các vị chủ chăn. Giáo hội khuyên không nên "coi nhẹ những khó khăn của những cuộc hôn nhân hỗn hợp này, thảm kịch chia rẽ tôn Giáo ngay tại gia đ́nh ḿnh, quan niệm về hôn nhân, sẽ trở thành căng thẳng trong hôn nhân, trong việc Giáo dục con cái. Có thể từ đó sinh ơ hờ với đạo của ḿnh (1633-35).

đ/ Đâu là hiệu quả của Bí tích Hôn Phối?

- Hôn phối đă thành sinh hiệu quả là 1. Ràng buộc măi và 2. với một người. Chúa ban sức mạnh qua Bí tích để đôi vợ chồng lo các bổn phận và sự quí trọng của bậc sống (1638).

e/ Bản chất của hôn nhân hướng về điều ǵ?

- Tự bản chất, hôn phối và t́nh yêu vợ chồng hướng về sinh sản và Giáo dục con cái. Đây là đỉnh cao của hôn nhân (1652). Cha mẹ truyền lại cho con đời sống luân lư, tinh thần và siêu nhiên. Cha mẹ là những nhà  Giáo dục đầu tiên của con cái (1653).

Dù không được Chúa ban con cái, vợ chồng vẫn có cuộc đời hôn nhân đầy đủ ư nghĩa. Cuộc hôn nhân của họ tỏa sáng sự phong phú của bác ái v́ đón nhận và hi sinh (1654).

g/ Giáo hội có chấp nhận cho ly thân, ly dị không?

- Có những t́nh trạng không thể duy tŕ sự sống chung được, v́ nhiều lư do, khi ấy Giáo hội chấp nhận cho ly thân, nhưng họ không được kết hôn với người khác. Họ rất nên ḥa giải (1649).

h/ Giáo hội có thể tuyên bố hôn nhân vô hiệu không?

-  Nếu cuộc hôn phối không thành, Giáo hội sẽ tuyên bố vô hiệu, sau khi ṭa án có thẩm quyền của Giáo hội đă xem xét t́nh trạng đó. Khi đă tuyên bố bằng giấy tờ rồi, hai người được tự do thành hôn với người khác, những nghĩa vụ tự nhiên của sự phối hiệp trước đó được hủy bỏ (discharged)(1629).

i/ Khi tái hôn trái luật Giáo hội, có được Rước lễ không?

- Không. Nhiều người Công Giáo dựa vào ly dị dân luật để tái hôn. Giáo hội không thể nhận hôn phối mới này là thành hiệu, nếu cuộc hôn nhân trước đă thành. Do đó, họ không thể được Rước lễ bao lâu c̣n t́nh trạng này. Họ cũng không được thi hành một số trách nhiệm trong Giáo hội. Họ chỉ được lănh Bí tích Sám hối, nếu họ thành thực hối hận và quyết chí sống trong khiết tịnh.

Tuy nhiên, Giáo hội và cộng đồng vẫn mời họ tham dự sinh hoạt của Giáo hội, mời họ Nghe Lời Chúa, dự Thánh lễ, kiên tŕ cầu nguyện, đóng góp bác ái, Giáo dục con cái trong đức tin hằng ngày sám hối xin ơn tha thứ (1650-51).

 

CÁC PHỤ TÍCH

( SACRAMENTALS)

(1667-1690)

 

a/ Các Phụ tích (c̣n gọi là Á Bí tích) Giáo hội lập để làm ǵ?

- Các Phụ tích là những dấu hiệu linh Thánh, phần nào giống Các Bí tích, nói lên những hiệu quả thiêng liêng nhờ lời cầu nguyện của Giáo hội. Nhờ các Phụ tích, người ta chuẩn bị đón ơn Thánh của các Bí tích, và Thánh hóa các hoàn cảnh khác nhau của cuộc đời Kitô hữu.

b/ Kể ra một số Phụ tích ?

- Thánh hiến con người cho Thiên Chúa (Thánh hiến viện phụ, chức đọc Sách, giúp lễ, Giáo lư viên, thừa tác viên Thánh thể...) ;

- Thánh hiến đời tu: như Thánh hiến trinh nữ, khấn ḍng;

- Thánh hiến một số sự vật (chén lễ, bàn thờ, tràng hạt, ảnh tượng, dầu Thánh, y phục Thánh...

- Thánh hiến nơi chốn để cử hành phụng vụ (nhà  thờ).

Các Phụ tích luôn gồm một lời kinh, kèm theo một dấu hiệu như sự đặt tay, làm dấu Thánh giá, rảy nước Thánh (gợi lại Bí tích Rửa tội).

- Việc đạo đức: Ḷng đạo đức b́nh dân cũng bao gồm  việc tôn kính các Thánh tích, đi viếng các đền Thánh, đi hành hương, đi kiệu, đi đàng Thánh giá, vũ điệu tôn Giáo, lần hạt mân côi, tôn kính ảnh tượng Thánh...Những h́nh thức này nối dài sinh hoạt phụng vụ của Giáo hội., nhưng không thể thay thế phụng vụ., phải điều hành sao cho ḥa hợp với phụng vụ và đưa đến phụng vụ.

c/ Nghi lễ an táng Kitô Giáo như thế nào?

- Ư nghĩa cái chết theo Kitô Giáo được mặc khải trong ánh sáng vượt qua của Chúa Kitô, ngày ĺa đời là ngày tín hữu chấm dứt cuộc sống Bí tích của họ, để khai mạc cuộc sống mới.

Giáo hội đă cưu mang con cái ḿnh trong cuộc sống dương thế, cũng tiễn họ đến tận cùng con đường đặt họ vào tay Cha trên trời. Sự hiến dâng này được cử hành đầy đủ bằng Thánh lễ, các lời chúc lành, trước sau Thánh lễ An táng đều là những phụ tích.

Nghi thức an táng không đem lại Bí tích hoặc phụ tích cho người đă chết, v́ họ đă ra ngoài kế hoạch Bí tích, nhưng là nói lên sự hiệp thông giữa người sống và người quá cố, loan báo cho cộng đoàn về cuộc sống vĩnh cửu.