Bài 25

 NGƯỜI CÔNG GIÁO XÂY ĐẮP QUÊ HƯƠNG

 

1. Sứ mệnh mà Chúa Giêsu trao cho Giáo hội:

1- Theo Công đồng Vaticanô 2: "Sứ mệnh riêng biệt mà Chúa Kitô đă ủy thác cho Giáo hội Công giáo của Chúa không thuộc phạm vi chính trị, kinh tế hay xă hội, mục đích Người đă chỉ định cho Giáo hội thuộc phạm vi tôn giáo.

2- Do đó Giáo hội Công giáo không cấu kết với một h́nh thức văn hoá nhân loại đặc thù, hoặc một chế độ chính trị, kinh tế hay xă hội nào..."Nhưng chính bởi sứ mệnh tôn giáo ấy phát sinh bổn phận, soi sáng và luật lệ của Giáo hội Chúa...

3- Tùy hoàn cảnh Giáo hội Công giáo c̣n phải phát động những công cuộc nhằm phục vụ mọi người, nhất là những người cùng khốn, qua những công cuộc từ thiện, bác ái...

4- Giáo hội không mong muốn ǵ hơn là được tự do phát triển dưới mọi chế độ để phục vụ lợi ích mọi người (Mv 42).

 

2. Giáo hội muốn phục vụ lợi ích của nhân loại:

- V́ nhân loại dù thế nào cũng là anh em trong t́nh con cái Cha trên trời.

Các tín hữu giáo dân hoàn toàn thuộc về Dân Chúa, đồng thời thuộc về xă hội dân sự. Họ thuộc về một dân tộc, nơi quê hương của họ. Họ chia sẻ kho tàng văn hóa nhờ việc giáo dục, họ liên kết với đời sống dân tộc nhờ nhiều mối liên lạc xă hội, họ cộng tác làm cho dân tộc họ tiến bộ qua nghề nghiệp mỗi người...(Sắc lệnh Truyền giáo số 21).

Tại Âu châu cũng như các châu khác, đạo Công giáo được loan truyền tới đâu là tinh thần công b́nh bác ái được phổ biến tới đó. Con người cũng như xă hội được thăng tiến,  v́:

   "Dù người Công giáo được cảnh giác rằng được lời lăi cả thế gian mà mất linh hồn nào được ích ǵ (Lc 9,25) và dù luôn trông đợi trời mới đất mới, cũng không để suy giảm, nhưng phải nỗ lực phát triển trái đất...tổ chức xă hội loài người tốt đẹp hơn" (Mv 39).

 

3. Đạo Công giáo đă giúp ích cho nước Việt nam:

- Đạo Công giáo đă loan truyền cho người Việt những chân lư đời đời do Thiên Chúa xuống thế làm người dạy dỗ.

Những chân lư ấy giải đáp những thắc mắc của con người: "Thực vậy, con người luôn luôn khao khát muốn biết, ít là một cách mơ hồ, cuộc sống, hoạt động và cái chết của ḿnh có ư nghĩa ǵ...Chỉ có Thiên Chúa là Đấng tạo dựng con người giống h́nh ảnh Người và cứu thoát con người khỏi tội lỗi, mới giải đáp đầy đủ các vấn đề ấy" (Mv 41).

 

4. Giáo hội Công giáo Việt nam xây dựng quê hương:

- Giáo hội Công giáo Việt nam đă đóng góp với đất nước qua mọi phương diện: Xă hội, Y tế, giáo dục, văn hoá, chính trị,...

1/ Bao nhiêu trường học các cấp: Tiểu, Trung, Đại học, kư túc xá...xưởng công nghệ, trường dạy nghề.

2/ Bao nhiêu Cô nhi viện, Viện Dưỡng lăo, bao nhiêu bệnh viện, trạm Y tế, trạm phát thuốc, bao nhiêu bác sĩ, y tá... , Bao nhiêu giáo dân, tu sĩ, nữ tu hi sinh làm việc trong những công việc giúp người nghèo, người què đui, hủi, điếc...bệnh truyền nhiễm, ung thư, lao, sida...

Ngoài ra, c̣n biết bao nhiêu người Công giáo khác đă v́ Chúa, v́ dân tộc âm thầm và tận t́nh phục vụ tổ quốc. Họ cùng với mọi người dân Việt khác không phân biệt tôn giáo, địa phương, trong hay ngoài Nước, chung sức xây dựng tổ quốc ngày càng giầu mạnh. Điều này đă được chứng minh qua hành động trong bất cứ chế độ chính trị nào...

Chẳng hạn, thời trước, Ông Nguyễn trường Tộ đă nương theo tinh thần "kính Chúa, ái quốc", sau khi du học nước ngoài, năm 1866 dâng lên các bản điều trần xin Vua Tự Đức cải cách nước nhà về các phương diện cai trị trong nước, tôn giáo, du học ngoại quốc, thời sự, giao thông, ngoại giao, tu chỉnh vơ bị, canh nông, khai thác hầm mỏ...(Dương quảng Hàm, Việt nam Văn học Sử yếu, trang 348-349).

3/ Nhưng đóng góp đáng kể nhất về phương diện văn hoá phải kể tới chữ quốc ngữ.

Chữ quốc ngữ viết theo mẫu tự Latinh do các cố thừa sai phiên âm để dạy giáo lư cho người tân ṭng. Dần dần thứ chữ mới này phổ biến ra xă hội, được gọi bằng tên mới: Chữ quốc ngữ: "Chữ quốc ngữ, chữ nước ta, con cái nhà, đều phải học". Một lối chữ đọc cũng như viết thật dễ dàng, phổ biến cho mọi người, so với chữ Hán, chữ Nôm thời trước, chỉ dành cho một lớp người có điều kiện ăn học.

 

Bài đọc thêm

 NGUỒN GỐC CHỮ QUỐC NGỮ

 

1. Người Việt nam từ ban đầu đă có một thứ chữ riêng, viết uốn éo tương tự như chữ viết của một số sắc dân miền Thượng Bắc phần Việt nam c̣n giữ lại ngày nay. Khi người Tàu qua cai trị, họ cũng đem văn hoá và chữ viết sang phổ biến. Thế là từ lâu đời, cha ông ta học hành và viết theo kiểu chữ Tàu (chữ Hán, chữ nho). Thứ chữ này chỉ những con nhà giầu, hay là có sự giúp đỡ đặc biệt, mới có điều kiện để miệt mài "sôi kinh, nấu sử" trong nhiều năm để đủ lực thi cử. Đa số dân chúng thất học, họ chỉ truyền tụng tư tưởng đạo lư răn đời qua ca dao, tục ngữ.

2. Có tác giả cho rằng, từ khi ông Hàn Thuyên viết bài văn tế cá sấu bằng chữ nôm (chữ riêng theo lối của người Việt do ghép hai chữ Hán, một mượn âm, một mượn nghĩa) nền văn học Việt nam bắt đầu tách rời khỏi ảnh hưởng chữ Hán???. Trải qua ba thế kỷ để hoàn bị, nền văn học Việt đă hoàn bị và trổ bông vào đầu thế kỷ 19 với tác phẩm Truyện Kiều của thi hào Nguyễn Du. Nhưng dù sao thứ chữ này cũng không thể phổ biến rộng răi trong dân gian được.

3. Kế đến là sự du nhập của nền văn hoá Tây phương với sự xuất hiện của các nhà truyền đạo Công giáo Rôma, theo niên hiệu sớm nhất là năm 1533 khi giáo sĩ Inikhu vào giảng đạo tại làng Ninh cường, tỉnh Nam định ngày nay. Các linh mục (priest) ngoại quốc này đă có sáng kiến dùng mẫu tự Latinh để phiên âm tiếng Việt và viết những bài giáo lư Công giáo cho các tân ṭng.

Công phu sáng tác chữ quốc ngữ buổi đầu do sự đóng góp của nhiều giáo sĩ, và công sửa đổi cho thành cung giọng và đem in thành sách trước nhất, phải kể đến giáo sĩ Đắc lộ (Alexander de Rhodes), ông là linh mục  Ḍng Tên (Chúa Giêsu). Năm 1651, ông đă nhờ Bộ Truyền giáo tại Rôma, nước Ư  in cuốn tự điển Việt -Bồ -La, sách Văn phạm, và cuốn giáo lư Phép giảng Tám ngày.

H́nh thức tiếng Việt hoàn hảo như ngày nay, ta c̣n phải kể tới Giám mục Pigneau de Behaine, Giám mục Taberd, cha Ravier, Genibrel, Cordier,...các vị trên cũng đă có công  rất nhiều...

Người ta cũng không thể quên  Petrus Trương Vĩnh Kư, trong thời Nam Việt là thuộc địa của người Pháp, ông đă xuất bản tờ Gia định báo (1867), tờ báo đầu tiên viết bằng quốc ngữ. Kế đến là Paulus Huỳnh Tịnh Của xuất bản tờ Gia Định báo (1895). Ngoài ra, lối viết tiếng Việt được phổ biến rộng răi hơn nữa là nhờ ông Nguyễn văn Vĩnh và nhóm Đông Dương tạp chí (1905), tiếp theo là ông Phạm Quỳnh với nhóm Nam Phong tạp chí (1917) cùng biết bao người ẩn danh khác...trong thời ḱ Vn mới dành độc lập từ sau năm 1945...

4. Sau mấy chục năm trau chuốt, vườn hoa Việt ngữ đă đua nở với sự xuất hiện của nhóm Tự lực Văn Đoàn và Phong hoá ngày nay.

Nền văn chương Kitô giáo ban đầu xuất hiện với những tác phẩm viết bằng quốc ngữ thuộc loại văn xuôi, vè, tuồng kịch. Các đề tài thường được khai thác là cuộc đời Chúa Kitô (Giáng sinh văn), danh nhân cựu Ước (Ông Gióp tuồng), nhân vật trong lịch sử Công giáo thế giới (Xêxilia đồng trinh tử đạo văn), nhân vật lịch sử Công giáo VN (Văn cha Minh và lái Gẫm).

Tại miền Bắc, phổ biến Hiếu tự (con cái với cha mẹ), Nữ tắc (phụ nữ cư xử), tiểu sử thánh Alêxù,...

Đóng góp thêm, có tín hữu Hàn mặc Tử (1912-1948) người Quảng B́nh, tỉnh Đồng Hới, năm 1936 ông bị bệnh phong cùi, năm 1940 phải vào điều trị tại trại cùi Qui hoà, thị xă Qui nhơn. Tác phẩm của ông: Đau thương, Xuân như ư, Thượng Thanh khí, Cẩm châu duyên, và 2 vở kịch Duyên kỳ ngộ, Quần tiên hội.

Từ sau tập thơ Xuân như ư, người ta mới thấy những bài văn thơ, sách báo Công giáo có giá trị dần dần xuất hiện, đánh dấu sự lớn mạnh của tư tưởng Thiên Chúa Giáo trên đất Việt.

Người ta cũng kể tới nhóm Tinh Việt Văn Đoàn đă đóng góp nhiều cho Văn đàn Công giáo vào những thập niên 60-70.

Từ những năm sau này, chữ quốc ngữ đă đương nhiên là chữ viết của người Việt khắp nơi trên thế giới.

Cho tới nay, lối viết không thay đổi ǵ nhiều, nếu sánh với thời hoàn chỉnh của mấy giám mục sau cha Đắc Lộ.